Cơ khí Việt Nam nhìn lại để đi tiếp

Theo tinh thần NQ Đại hội Đảng XIII, Việt Nam sẽ tiếp tục xây dựng phát triển kinh tế, công nghiệp của đất nước trong những năm tới, giai đọan 2021-2035, tầm nhìn 2045 để đưa đất nước giầu mạnh, nhân dân ấm no hạnh phúc. Là những người hoạt động trong ngành cơ khí Việt Nam, với ý thức nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật,chúng ta bằng kinh nghiệm và hiểu biết của mình cần nhìn lại kết quả chặng đường xây dựng ngành cơ khí của đất nước trong 25 năm đã qua để cùng nhau rút bài học nhằm đi tiếp, tránh tụt hậu và tiếp tục chỉ làm gia công cho nước ngoài trên đất nước mình. Thiết nghĩ suy nghĩ như vậy là cần thiết và đúng đắn.

Có thể thấy sau hơn hai thập niên đã qua Việt Nam thực hiện CNH - HĐH chưa đạt được mục tiêu như đề ra ban đầu (Đại hội VII, giữa nhiệm kỳ 1997) nhưng đất nước đã hình thành được một số ngành kinh tế,sản xuất công nghiệp hạ tầng quan trọng (năng lượng, xây dựng cầu đườnggiao thông thủy bộ, hàng không, đóng tầu biển…); sản xuất nông nghiệp (lúa gạo, thủy sản, chế biến gỗ, cây ăn quả xuất khẩu…); phát triển dịch vụ công (Bưu chính viễn thông, thông tin liên lạc…) khá tốt trong khu vực. Có thể thấyngành chế tạo cơ khí nội địa của Việt Nam cũng trong cùng mốc thời gian, hoàn cảnh, điều kiện như nhau nhưng sản xuất cơ khí Việt Nam lại kém phát triển được như các ngành khác, nên tụt hậu so với các nước. Đây là điều rất đáng tiếc, đáng buồn đối với người làm cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam nói chung hôm nay.

Xưởng sản xuất máy cưa vòng của HAMECO

LẦN ĐẦU TIÊN VIỆT NAM CÓ CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CƠ KHÍ CỦA ĐÂT NƯỚC VÀO NHỮNG NĂM DẦU CỦA THIÊN NIÊN KỶ THỪ HAI

Tôi nhớ lại thời nước ta bắt đầu ban hành quyết sách thực hiện CNH-HĐH vào cuối những năm 90 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước có quyết định thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH đất nước để đến năm 2025 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp, một số chuyên gia cơ khí lâu năm là lãnh đạo Hội KHKT cơ khí Việt Nam Nhiệm kỳ III (1998-2003) do TS Hà Nghiệp, Trợ lý Tổng Bí thư làm Chủ tịch đã trao đổi với Thường trực chúng tôi cần đề xuất với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Chínnh phủ có chính sách khôi phục sản xuất cơ khí đang bị tàn lụi sau xóa bỏ kinh tế bao cấp kế hoạch hóa và mất viện trợ của Liên Xô và phe XHCN do sụp đổ. Mặt khác cần chỉ rõ vị trí quan trọng của phát triển ngành cơ khí chế tạo nội địa để Việt Nam chủ động thực hiện CNH-HĐH đất nước.Thấy rõ tầm quan trọng của ý kiến đề xuất tâm huyết này, mặc dầu thời đó nước ta còn rất nghèo nhưng rồi chúng tôi cũng đãđượctrực tiếp trình bầy với Tổng Bí thư Đỗ Mười, Thủ tướng Võ Văn Kiệt những ý kiến của mình về sự cần thiết khôi phục và phát triển công nghiệp cơ khí của đất nước. Tôi nhớ mãi câu nói của Thủ tướng Võ Văn Kiệt khi làm việc với chúng tôi: “Vấn đề các đồng chí nêu ra lúc này rất đúng và cần thiết để chúng ta thực hiện công nghiệp hóa đất nước, nhưng các đồng chí cũng thông cảm khi tôi và anh Đỗ Mười nhận nhiệm vụ đến nay chỉ kịp có thời gian để lo được cái ăn, cái mặc của nhân dân sau chiến tranh kéo dài. Nay chúng tôi bắt đầu nghỉ nhưng vẫn sẽ có trách nhiệm cùng các đồng chí thực hiện sự nghiệp khó khăn này...” Nhưng đến khi Thủ tướng Phan Văn Khải nhận nhiệm vụ, chúng tôi được mời tham gia xây dựng nội dung dự thảo bản Chiến lước phát triển cơ khí Việt Nam đến năm 2010 tầm nhìn 2025. Sau khi trao đổi kỹ với các chuyên gia cơ khí là Thường vụ Hội KHKT cơ khí Việt Nam trong đó có tôi là Tổng Thư ký (tiền thân của Tổng Hội KHKT cơ khí VN ngày này),Thủ tướng Phan Văn Khải đã kýban hành bản Chiến lược phát triển công nghiệp cơ khí Việt Nam tại QĐ số 186-QĐ- TTg/ 2000. Đây là lần đầu tiên kể từ 1945 nước Việt Nam có một bản chiến lược xây dựng phát triển công nghiệp cơ khí của đất nước, trong đó nêu cụ thể ưu tiên phát triển 8 nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm và thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chiến lược của chính phủ do Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng làm Trưởng Ban. Sau 5 năm Việt Nam có Chiến lược nhiều doanh nghiệp cơ khí nội địa Việt Nam đã ra đời thuộc nhiều thành phần sở hữu đã khởi sắc. Từ đónước ta bắt đầu hình thành một số ngành sản xuất lắp ráp xe máy, ô tô, đóng tầu thủy, chế tạo thủy công, hàng phi tiêu chuẩn, xây lắp các nhà máy thủy, nhiệt điện. nhà máy công nghiệp, chế tạo biến thế, động cơ điện, sản xuất hàng tiêu dùng và tham gia xuất khẩu…

NGÀNH CƠ KHÍ NỘI ĐỊA VIỆT NAM TỤT HẬU, ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN?

Nhưng rồi sau khi các bác Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, TS Hà Nghiệpđều đã nghỉ làm việc, những người kế nhiệm đã không tỉnh táo kiên định tiếp tục tháo gỡ khó khăn, chăm lo xây dựng cơ khí nội địa trước áp lực đầu tư nước ngoài, một số doanh nghiệp cơ khí quốc doanh lớn do các Bộ quản lý đã rơi vào tình trạng tiêu cực, cục bộ … dẫn đến sản xuất cơ khí nội địa của Việt Nam đã không đủ sức tiếp tục phát triển để dành thị trường, đơn hàng công trong nước. Đây là bài học cần rút ra để cơ khí nội địa Việt Nam đi tiếp trong những năm tới.

Tất nhiên sẽ có nhiều, chỉ xin nêu tóm tắt một số nguyên nhân như dưới đây.

- Trước hết chính sách quản lý nhà nước đối với ngành cơ khí chưa mang tính kỷ cương đồng bộ để vừa kêu gọi đầu tư nước ngoài vừa tạo điều kiện bảo vệ doanh nghiệp nội địa đang rất yếu kém có điều kiện từng bước phát triểnkhi Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng hội nhập kinh tế quốc tế và hợp táclàm ăn với thế giới.

Ai cũng biết muốn đầu tư xây dựng hình thành được công nghiệp cơ khí đòi hỏi vốn lớn, vòng quay vốn chậm, nhìn chung khó hơn đầu tư cho các ngành khác, dẫn đến nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành về sự cần thiết xây dựng phát triển công nghiệp cơ khí của đất nước để Việt Nam để làm chủ thực hiện CNH trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế chưa đúng với tinh thần Nghị quyết của Đảng và quyết định của chính phủ đã ban hành. Có thể nêu cụ thể nhiệm kỳ Chính phủ vừa qua đã không duy trì hoạt động của Ban chỉ đạo cơ khí trọng điểm như những năm trước mà không có quyết định giải thể Ban. Còn với Bộ quản lý ngành cơ khí đã không đủ sức quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của cơ khí thuộc các Bộ, ngành, địa phương dẫn đến không có tiếng nói chung trước sức ép của cơ khí nước ngoài, do đó cơ khí nội địa Việt Nam ngày càng tiếp tục thua trên sân nhà, tiếp tục làm gia công, làm bên B, thậm chí B phẩy cho nước ngoài trên chính đất nước mình. Vì không đủ sức cạnh tranh cho nên đa phần các doanh nghiệp cơ khí nội địa của Việt Nam chỉ đủ sức tồn tại với công nghệ sản xuất chưa tới 3.0 và số lượng các doanh nghiệp cơ khí nội địa có từ 500 người đến trên ngàn người không nhiều. Hiện tại đa phần có quy mô doanh nghiệp sản xuất cơ khí rất nhỏ, trên dưới vài chục đến vài trăm người đang hoạt động ở một số thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng và các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tầu…chuyên làm gia công cho nước ngoài theo chủ trương, chính sách công nghiệp hỗ trợ. Với trách nhiệm Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) chúng tôi khó tìm được nhiều doanh nghiệp có khí vốn nội đầu tư có quy mô, tiêu chuẩn quản trị, công nghệ… tương ứng với sản xuất cơ khí thời 4.0 của thế giới để giới thiệu hợp tác với nước ngoài theo yêu cầu của bạn.

- Nhà nước kêu gọi, trải thảm đầu tư nước ngoài là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước để nhanh chóng phát triển kinh tế xã hội nhưng chưa tính tới việc cần song song xây dựng khối doanh nghiệp nội địa, do vậy với tiềm lực của ngành cơ khí nội địa Việt Nam còn yếu kém, phân tán, thiếu liên kết đã tạo điều kiện cho các Tập đoàn, doanh nghiệp nước ngoài tận dụng tối đa và rất chủ động nhanh chóng xâm nhập làm chủ thị trường cung cấp các sản phẩm cơ khí cho đất nước 100 triệu dân Việt Nam. Họ đãtích cực trong việc khai thác vốn đầu tư côngphát triển kinh tế xã hội và hạ tầng của Việt Nam. Tất nhiên theo thời gian doanh nghiệp cơ khí nội địa của Việt Nam tiếp tục phải làm thuê trên sân nhà.

- Không chỉ với ngành cơ khí, cơ chế xin cho, tham nhũng ngày càng tràn lan, các doanh nghiệp cơ khí có lực luôn chạy thẳng lên các Bộ, ngành, Văn phòng chính phủ để xin ủng hộ hợp đồng, xin cơ chế có lợi cho riêng mìnhnên đã gây hậu họa tham nhũng, lãng phí mà hiện tại Đảng, Nhà nước ta đang ra sức xử lý, thậm chí “đốt lò” ngày càng nhiều vụ việc trong đó có nhiều dự án của công nghiệp và cơ khí do đầu tư thua lỗ, lãng phí, tham nhũng rất lớn.

Trước thực trạng cơ khí nội địa Việt Nam hiện tại vẫn đang yếu kém, để nhanh chóng khắc phục được những nguyên nhân trên đối với cơ khí, Việt Nam cần làm gì? và làm thế nào trong những năm tới? Đây là vấn đề rất cần thiết cho Chính phủ trong nhiệm kỳ này. Muốn tìm đường đi để phát triển cơ khí nội địa trong thời gian tới Chính phủ cần xem xét có chính sách bảo vệ thị trường nội địa, từng bước liên kết, liên doanh, hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài để tham gia nhiều hơn vào chuỗi sản xuất cơ khí chế tạo toàn cầu trong những năm tới.

CÓ THỂ KHẲNG ĐỊNH DUNG LƯỢNG THỊ TRƯỜNGVIỆT NAM CẦN CÁC SẢN PHẨM CƠ KHÍ TRONG NHỮNG NĂM TỚI ĐỂ THỰC HIỆN CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC LÀ KHÔNG HỀ NHỎ

Tất cả các quốc gia phát triển đều nhìn nhận THỊ TRƯỜNG LÀ VỐN, LÀ TÀI NGUYÊN CỦA ĐẤT NƯỚC, NHƯNG TIẾC RẰNG VIỆT NAM CHƯA THẤY HẾT YẾU TỐ HẾT SỨC QUAN TRỌNG NÀY. Nhưng qua hơn hai thập kỷ vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN nhiều cấp quản lý nhà nước ở TW và địa phương vẫn chưa hiểu rõ về tầm quan trọng của thị trường nên Việt Nam chưa có nhiều cơ chế, chính sách để bảo vệ thị trường nội địa như các nước khác. Ngay khi ban hành các Luật Đầu tư nước ngoài, Luật đấu thầu trước đây và Luật Đầu tư công gần đây cũng chưa thể hiện rõ sự cần thiết bảo vệ thị trường nội địa khi Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do với quốc tế.  

- Hiện tại Việt Nam đã ký nhiều Hiệp định thương mại tự do với thế giới, có thể khẳng định thị trường nội địa của một số ngành kinh tế trong đó có ngành công nghiệp cơ khí của Việt Nam là lớn và sẽ lớn so với nhiều nước trên thế giới. Trung bình hàng năm trong gần đây bình quân mỗi năm Việt Nam phải đầu tư phát triển hạ tầng, công, nông nghiệp, dịch vụ công… nhiều chục tỷ USD/năm. Hơn nữa Việt Nam có nền chính trịổn định, con người Việt Nam thông minh, địa chính trị rất thuận lợi cho mối giao thương quốc tế, cho nên thị trường Việt Nam ngày càng được các nước có nền công nghiệp mạnh trên thế giới muốn hiện diện tại đây để làm ăn. Như vậy có thể khẳng định sản xuất cơ khí Việt Nam có thị trường không nhỏ so với nhiều quốc gia, đồng thời có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu nhiều kinh nghiệm về quản trị, đào tạo nguồn nhân lực, sản xuất, kinh doanh hiện đại của thế giới. Nhưng bên cạnh thuận lợi sản xuất cơ khí Việt Nam đồng cũng gặp rất nhiều khó khăn vì khó đủ sức vươn lên xây dựng thị trường cơ khí nội địa như các ngành sản xuất khác và luôn bị nước ngoài thao túng, áp đặt chỉ cho làm phụ trợ. Do vậy nếu nhà nước không có chính sách đúng và kiên trì nhất quán để xây dựng ngành cơ khí nội địa của riêng mình chắc chắn những năm tới cơ khí nội địa Việt Nam vẫn khó phát triển đủ tầm, đủ sức cạnh tranh trong nước và quốc tế.

Các nhà quản lý vĩ mô cơ khí thường hay lập luận: Làm gì cũng phải theo cơ chế thị trường. Vâng đúng là vậy cho nên chúng ta cần cùng nhau xem xét vậy nhu cầu và dung lượng thị trường của sản xuất cơ khí Việt Nam sẽ như thế nào trong những năm tới? Sau nhiều năm giờ đây các nhà quản lý vĩ mô mới nhận ra việc kêu gọi đầu tư nước ngoài là cần thiết nhưng phải lựa chọn công nghệ để tránh biến đất nước thành bãi thải công nghệ? Cần kịp thời điều chỉnh chính sách để có sự bình đẳng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa?...

- Lâu nay nhiều người vẫn nhấn mạnh quan điểm: Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chuyển mạnh sang “kinh tế thị trường” và thực thi tốt “hội nhập kinh tế quốc tế” thì mới phát triển được. Điều đó đúng về mặt câu chữ, nhưng trên thực tế Việt Nam lại chưa triệt để xây dựng và bảo vệ được thị trường nội địa của mình. Với góc nhìn của những người đang hoạt động sản xuất kinh doanh và có kinh nghiệm cho rằng với bất kể ngành sản xuất nào cũng vậy, muốn phát triển sản xuất ổn định trước hết nhà nước cần có chính sách xây dựng và bảo vệ thị trường nội địa đồng thời với thực hiện tham gia thị trường quốc tế bằng tiềm lực của chình mình. Việt Namhiện xuất khẩu sản phẩm cơ khí chế tạo chủ yếu là của doanh nghiệp vốn FDI chứ không phải của các doanh nghiệp cơ khí nội địa.

- Sau bao năm giải thể Bộ Cơ khí, Luyện Kim, càng ngày thực tiễn Việt Nam càng phải nhập khẩu rất nhiều vật tư, trang thiết bị cho sản xuất cơ khí và các ngành kinh tế, công nghiệp then chốt khác của đất nước như năng lượng, khai thác dầu khí, khoáng sản, giao thông, nông nghiệp, thủy sản, viễn thông… Mỗi năm hiện tại nhập khẩu vật tư thiết bị đáp ứng nhu cầu trong nước đã lên tới nhiều chục tỷ USD/năm mà nhà nước lại thu được rất ít thuế từ nhập khẩu hợp pháp này.