Không muốn thành tỉ phú? Nỗi buồn thiếu vắng đội ngũ doanh nghiệp tư nhân lớn.

Thaco xuất khẩu xe bus mang thương hiệu Việt sang Philippines và linh kiện phụ tùng sang Hàn Quốc năm 2020. Doanh nghiệp tư nhân có sản phẩm hàng hóa giá trị cao như điện thoại thông minh, xe ô tô,…như Thaco không nhiều.

Hơn 30 năm phát triển, tại Việt Nam đã xuất hiện những doanh nghiệp tư nhân lớn, hoạt động đa ngành, mang tầm cỡ quốc tế. Cũng đã có những tỉ phú trong danh sách thế giới. Nhưng con số này mới chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Thực trạng buồn

Có thể nói, trong quá trình phát triển hơn 30 năm qua, Việt Nam đã hình thành được những doanh nghiệp tư nhân năng động, có khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đã có những tỉ phú Việt Nam trong danh sách tỉ phú thế giới.

Các mẫu xe ô tô SUV điện tự lái do Vinfast sản xuất được điều khiển bởi chip Orin, do Nvidia sản xuất, sẽ được xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu bắt đầu từ tháng 6/2022.

Về xuất khẩu, ngoài những mặt hàng truyền thống như nông lâm thủy sản, các doanh nghiệp tư nhân đã có thêm những sản phẩm hàng hóa giá trị cao, xứng tầm để “đem chuông đi đánh xứ người” như điện thoại thông minh, xe ô tô... Ở trong nước, những doanh nghiệp tư nhân lớn của Việt Nam đã thi công nhiều công trình lớn, phức hợp về xây dựng, bất động sản, cầu cảng, sân bay… góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước, đóng góp quan trọng cho sự phát triển chung. Các doanh nghiệp tư nhân cũng tham gia vào những lĩnh vực trước đây thuộc độc quyền nhà nước như hàng không, làm cho thị trường cạnh tranh hơn và đông đảo người dân được hưởng lợi.

Mặc dù vậy, theo đánh giá chung, khối doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đến nay vẫn chưa trở thành lực lượng hùng mạnh như kỳ vọng, làm động lực thúc đẩy kinh tế đất nước đi lên. Đặc biệt là rất thiếu những doanh nghiệp tư nhân lớn trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong khi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là động lực dẫn dắt nền kinh tế tăng trưởng, giúp tránh khỏi nguy cơ tụt hậu và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Vì vậy, rất cần một đội ngũ doanh nghiệp nội địa tầm cỡ, gánh vác trọng trách này. Hiện tại, chỉ có một vài doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực sản xuất ô tô như: công ty Trường Hải, VinFast, Thành công… nhưng vẫn chưa đạt tầm cỡ thế giới. Do đó, công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam vẫn mang nặng tính chất gia công, lệ thuộc nhiều vào nước ngoài, chưa chiếm lĩnh được những vị trí vững chắc trong chuỗi cung ứng toàn cầu và còn thiếu nền tảng để phát triển một cách độc lập.

Số liệu từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, trong số các doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động thì những doanh nghiệp lớn chỉ chiếm chưa đầy 2%, doanh nghiệp loại vừa chiếm hơn 2%, còn lại gần 96% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Các doanh nghiệp tư nhân mới chỉ đóng góp khoảng 10% GDP cả nước mỗi năm.

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, những năm qua vai trò của kinh tế tư nhân liên tục được khẳng định là động lực quan trọng của nền kinh tế; nhưng khu vực này đã và đang trải qua một quá trình phát triển nhọc nhằn vẫn rất nhỏ bé, khó lớn và không muốn lớn.

Một doanh nghiệp cơ khí tư nhân ở Bắc Ninh cho biết, cách đây 12 năm đã quyết đầu tư, để trở thành nhà cung ứng cho doanh nghiệp FDI. Tuy nhiên, đến nay mới chỉ trở thành nhà cung cấp cấp 2, mục tiêu phấn đấu trở thành nhà cung cấp cấp 1 vẫn còn xa vời. Chính ông chủ doanh nghiệp này đã thừa nhận, làm nhà cung ứng cấp 2, cấp 3 thực ra chỉ là hỗ trợ của hỗ trợ mà thôi, chúng ta sẽ mãi kẹt lại ở giá trị gia tăng thấp. Phải vươn lên làm chủ công nghệ, mới tạo ra giá trị gia tăng cao. Nếu nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phấn đấu trở nên lớn mạnh thì đất nước mới hy vọng thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, thời gian vừa qua, số lượng các doanh nghiệp tư nhân từ nhỏ vươn lên quy mô vừa và từ vừa vươn lên quy mô lớn tại Việt Nam rất hiếm. Trong khi đó, theo VCCI, có sự sụt giảm khá mạnh mẽ của doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa và lớn trong giai đoạn 5 năm gần đây. Điều này đã đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế của những doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ, với tỷ lệ xấp xỉ 96%, trong đó, các doanh nghiệp siêu nhỏ chiếm đa số, tới gần 67%.

Tốc độ chuyển dịch doanh nghiệp từ nhỏ lên vừa và vừa lên lớn rất chậm, có nhiều doanh nghiệp phải mất từ 10-20 năm mới phát triển lên quy mô vừa. Nhưng khi tương đối thành công lại quyết định rút khỏi thị trường, bán hoặc sáp nhập doanh nghiệp mình vào doanh nghiệp khác, chủ yếu là với các doanh nghiệp FDI. Đây thực sự là tình trạng đáng buồn, bà Phạm Chi Lan cho biết.

Loay hoay phát triển doanh nghiệp

Quy mô lớn là lợi thế, để các doanh nghiệp tận dụng được cơ hội kinh doanh, song nhiều doanh nghiệp tư nhân không muốn lớn. Giới chuyên môn nhận định, là do môi trường kinh doanh tại Việt Nam vẫn thiếu thuận lợi. Bức xúc nhất hiện nay vẫn là tình trạng phân biệt đối xử. Khảo sát vừa qua của VCCI cho thấy, có 39,5% doanh nghiệp tư nhân cho biết, lãnh đạo các địa phương vẫn ưu tiên thu hút đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước hơn là phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp tư nhân luôn gặp khó trong tiếp cận đất đai, tiếp cận vốn, cũng như bất lợi về thanh, kiểm tra, thuế, hải quan so với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Nhà nước.

Nếu như khó khăn các doanh nghiệp nhỏ thường đề cập tới là tiếp cận vốn, đất đai, thị trường, khách hàng... thì với các doanh nghiệp lớn lại là rủi ro về thay đổi chính sách. Khảo sát của VCCI mới đây cho thấy, một vấn đề đáng quan ngại là khả năng dự đoán những thay đổi chính sách, có xu hướng giảm liên tục.

Cụ thể, tỷ lệ doanh nghiệp cho biết thường xuyên dự đoán được thay đổi chính sách, giảm từ mức 16% trong năm 2014 xuống còn 5% trong năm 2018. Trong khi đó, tỷ lệ doanh nghiệp không bao giờ hoặc hiếm khi dự đoán được nội dung chính sách, tăng từ 42% năm 2014 lên 67% năm 2018. Sự suy giảm khả năng dự đoán chính sách này là xu hướng nhất quán trong 5 năm qua. Đây là một thực tế rất đáng quan ngại về môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Nguyên nhân chính là do các chính sách, quy định pháp luật của Việt Nam thường thay đổi bất ngờ, diễn ra quá nhanh trong thời gian ngắn.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Đình Cung cho rằng, một trong những điểm đang “trói” doanh nghiệp hiện nay chính là khả năng khó tiên đoán về thay đổi chính sách, pháp luật kinh doanh. Điều này dẫn đến thực tế là quyền tự do kinh doanh có cải thiện nhưng an toàn của doanh nghiệp thì chưa. Do vậy, ứng xử về đầu tư trong khối tư nhân vẫn thiên về ngắn hạn, nhỏ lẻ và không mang tính chiến lược dài hạn. Chính vì vậy, những doanh nghiệp tư nhân thực sự lớn, có tầm vóc đến nay vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Nghị quyết 10-NQ/TW năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân đã định hướng rõ, đó là phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khuyến khích hình thành các tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu, có đủ khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu…

Tuy nhiên, theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế VCCI, dường như chúng ta vẫn say sưa nói về Nghị quyết quá nhiều, trong khi những văn bản pháp luật của các bộ, ngành ban hành vẫn đi ngược lại. Trong năm 2020 có không ít những quy định pháp luật được ban hành hoặc soạn thảo không thực sự thân thiện với doanh nghiệp tư nhân.

Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030 của Chính phủ mới đây đã đưa ra định hướng: khuyến khích hình thành, phát triển những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế; đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, với tỉ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60%-65%.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Nam, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, Việt Nam vẫn lúng túng chưa biết làm thế nào để xây dựng được một đội ngũ doanh nghiệp lớn mạnh và hùng hậu. Nếu không làm được điều này, nền kinh tế sẽ rất “xập xệ”, không phát triển nổi.

Tham khảo kinh nghiệm của các nước, những bài học thành công của những quốc gia này sẽ cho chúng ta một phần lời giải. Tuy nhiên, ngành công nghiệp số và lĩnh vực chế biến chế tạo đang là những lĩnh vực chiếm tỷ trọng GDP lớn. “Vườn ươm” doanh nghiệp số có vẻ sẽ dễ dàng hơn doanh nghiệp truyền thống, chắc chắn trong tương lai, khối doanh nghiệp số của Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội và đột phá hơn khi được Chính phủ và các Bộ ban ngành quan tâm nhiều như hiện nay, đặc biệt là với thế mạnh về công nghệ và tỷ lệ người Việt sử dụng thiết bị viễn thông ở thứ hạng cao trên thế giới (Top 10 quốc gia sành công nghệ). Minh chứng là Hàn Quốc và Ấn Độ, đang ngày càng có nhiều kỳ lân, nhiều tỷ phú tự thân vượt lên các tỷ phú lĩnh vực truyền thống. Ấn Độ và Hàn Quốc dành nhiều quỹ cho đầu tư mạo hiểm để có nhiều doanh nghiệp đột phá trên thị trường. Đơn cử tại Hàn Quốc trường hợp của Ông Brian Kim, nhà sáng lập ứng dụng nhắn tin trên di động Kakao, là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Với khối tài sản ròng cá nhân 12,9 tỷ USD, ông Kim mới đây đã vượt qua ông Jay Y. Lee - người thừa kế của tập đoàn Samsung - để trở thành người giàu nhất Hàn Quốc. Hàn quốc trực tiếp có những chính sách miễn giảm thuế cho khối doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp đầu tư cho công nghệ 5G. Chính phủ cũng dự định đầu tư khoảng 100.000 tỷ Won (khoảng 85,7 tỷ USD) thông qua các dự án quy mô lớn, các dự án khu vực công và đầu tư tư nhân vào các dự án công từ năm ngoái.

Đối với lĩnh vực chế biến chế tạo, khó hơn nhiều. Đáng mừng là chúng ta thấy nổi lên những cái tên như Thaco, Thành công, Vingroup,… nhưng thực sự những doanh nghiệp này mới tạo ra những mạng lưới liên minh mạnh trong nội tại và gần như chưa kết nối với khối doanh nghiệp bên ngoài. Họ cần phải là vai trò của những doanh nghiệp tiên phong với việc tạo ra những liên kết với bên ngoài hơn bao giờ hết nhằm xóa bỏ sự phát triển cục bộ, đơn lẻ của các doanh nghiệp Việt. Chúng ta thấy rõ xu hướng các doanh nghiệp và công nghệ trên thế giới đang thay đổi mang tính liên kết, sáp nhập và dịch chuyển mang tính toàn cầu hóa.

Vậy, Chính phủ sẽ can thiệp tích cực vào các hoạt động của các doanh nghiệp này như nào? Và bằng những công cụ gì? Có thể kể ra đây một vài cách thức mà các chuyên gia đã đề cấp khá nhiều mà đến nay chưa thấy được triển khai nhiều đó chính là chính sách ưu đãi, sự ủng hộ những doanh nghiệp lớn có khả năng chấp nhận rủi ro, có khả năng quản lý, làm thị trường và đầu tư lớn cho nghiên cứu những công nghệ tương lai để làm vai trò người “dẫn đầu” tổ chức “sân chơi” chung. Bên cạnh đó, có thể tạo ra những “cấu trúc mới” cho nền kinh tế đó là những nhóm doanh nghiệp nhỏ hơn thành một khối cạnh tranh với các doanh nghiệp đứng đầu. Hoặc nhóm doanh nghiệp lớn nhà nước cần cổ phần hóa với doanh nghiệp FDI hoặc DN nội địa tạo thành những nhóm liên kết DN mạnh, sẵn sàng cạnh tranh trực tiếp với những doanh nghiệp đứng đầu trên thị trường không chỉ trong nước mà quốc tế. Trong khi đó, Nhà nước phải tập trung đầu tư cho đổi mới sáng tạo khoa học và công nghệ của khối doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, bởi họ chỉ có thể tập trung vào sản xuất, làm thị trường, rất cần có sự hậu thuẫn của Chính phủ cho phát triển nghiên cứu công nghệ để phát triển doanh nghiệp. Có như thế mới mong khối doanh nghiệp này sẽ đạt tỷ lệ sống sót trong hai năm đầu thành lập và “lọc” ra một lớp doanh nghiệp thoát nhỏ và siêu nhỏ, từ những doanh nghiệp vừa vừa đó sẽ có một “lứa” những doanh nghiệp lớn hơn. Như vậy, mới hy vọng một số DN trong đó sẽ trở thành những doanh nghiệp dẫn đầu trong vòng 10 năm nữa nhằm thực hiện mục tiêu trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao vào năm 2030.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng chỉ ra, xây dựng một nền kinh tế công nghiệp hiện đại sẽ không thể đạt được khi dựa vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việt Nam không ngoại lệ, chỉ các doanh nghiệp lớn với khả năng tiếp cận vốn, công nghệ mới là những chủ thể có thể tham gia vào các dự án hạ tầng quy mô lớn hay sản xuất hàng hóa xuất khẩu, hoạt động sản xuất kinh doanh với quy mô toàn cầu.

Phó Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Phan Đức Hiếu cho rằng, nền kinh tế Việt Nam vẫn đang thiếu trầm trọng các doanh nghiệp cỡ vừa và cỡ lớn, để trở thành các kênh kết nối vào chuỗi giá trị toàn cầu và trực tiếp tham gia vào thị trường quốc tế. Quy mô nhỏ, tính phi chính thức lớn, quản trị yếu kém, công nghệ thấp… vẫn đang là thực trạng phổ biến của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam.