Phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần Luật phát triển công nghiệp

Ngày 29/6, Bộ Công Thương phối hợp với Hội đồng lý luận Trung Ương tổ chức Tọa đàm khoa học: “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”.

Đại diện các Vụ, Cục Bộ Công thương, Hội đồng Lý luận Trung ương, chuyên gia Bộ Công thương đến từ Hiệp Hội Cơ khí Việt Nam, Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp, đại diện một số DN lớn nhưTập đoàn Thành Công, Trường Hải, Hòa Phát,… cùng tham dự đóng góp ý kiến và đưa ra các đề xuất cho việc xây dựng chính sách phát triển công nghiệp.

“Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là mục tiêu xuyên suốt của Đảng và Nhà nước từ Đại hội III đến nay. Qua 35 năm kiên trì thực hiện mục tiêu này, công nghiệp Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định. Công nghiệp chế biến chế tạo ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế, với mức đóng góp trong GDP tăng từ 13% năm 2010 lên 16,7% năm 2020.” Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Thắng Hải nhận định trong phát biểu khai mạc Tạo đàm.

Bộ Công Thương đồng chủ trì tổ chức Tọa đàm khoa học: “Một số vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ trương, chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”

"Năng lực cạnh tranh công nghiệp đã được cải thiện đáng kể, Báo cáo cạnh tranh công nghiệp của UNIDO đã đưa Việt Nam từ nhóm “các nền kinh tế đang phát triển” lên nhóm “các nền kinh tế công nghiệp mới nổi”, Thứ trưởng cho biết

Kinh nghiệm các nước phát triển thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì ngành công nghiệp chiếm tới 35-50% GDP của quốc gia đó và riêng ngành chế biến chế tạo chiếm tới 25-30%. Vậy Việt Nam sẽ đưa ra những mục tiêu và tiêu chí cụ thể gì cho việc phát triển đất nước hiện đại hóa? Ngay từ bây giờ Việt Nam cần chuẩn bị những gì cho lộ trình phát triển này? Những khó khăn thách thức nào để đạt được những mục tiêuđã đề ra trong Nghị quyết số 23 NQ/TW của Bộ chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030 tỉ trọng công nghiệp trong GDP đạt trên 40%, tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 30% trong đó công nghiệp chế tạo đạt trên 20%; Tỉ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt tối thiểu 45%; Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng công nghiệp đạt bình quân trên 8,5%/năm, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt bình quân trên 10%.

5 khó khăn lớn nhất đối với doanh nghiệp Việt

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn vừa qua của đất nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Trong đó, tiêu biểu là 5 nhóm vấn đề gồm:

Thứ nhất, nội lực của nền công nghiệp trong nước còn yếu,năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp công nghiệp trong nước chưa cao, giá trị gia tăng tạo ra còn thấp, …Cụ thể các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa làm chủ được công nghệ nguồn trong sản xuất, chưa có sản phẩm công nghiệp thương hiệu Việt Nam có hàm lượng công nghệ và giá trị cao. Các doanh nghiệp Việt Nam chưa tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ hai, nền công nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài: Sản xuất trong nước phần lớn phụ thuộc vào linh phụ kiện, nguyên vật liệu nhập khẩu khiến giá trị gia tăng của ngành công nghiệp nội địa rất thấp, dễ bị tổn thương trước biến động chính trị-kinh tế-xã hội trong và ngoài nước. Các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam giá trị gia tăng từ các yếu tố bên ngoài vẫn chiếm tỷ lệ lớn, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa còn thấp.

Thứba, nguồn nhân lực công nghiệp còn yếu kém,tỉ lệ lao động đã qua đào tạo thấp, thiếu tính liên kết giữa khu vực sản xuất với các cơ sở đào tạo, đội ngũ lãnh đạo các doanh nghiệp công nghiệp còn thiếu kinh nghiệm cạnh tranh trên thị trường toàn cầu, thiếu nền tảng lý thuyết khoa học về quản trị sản xuất, không có cơ hội tiếp cận với các phương pháp quản lý sản xuất hiệu quả.

Thứtư, trình độ công nghệ của doanh nghiệp công nghiệp trong nước còn hạn chế, đa số các doanh nghiệp Việt Nam đang đứng ngoài cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, với sự tiếp cận ở mức độ thấp đối với tất cả các trụ cột của một nền sản xuất thông minh.

Thứ năm, sản xuất công nghiệp gặp nhiều khó khăn về tiếp cận vốn. Bản chất của khu vực sản xuất đòi hỏi lượng vốn đầu tư lớn dài hạn, trong khi nguồn lực xã hội đầu tư vào sản xuất rất hạn chế do thời gian thu hồi vốn chậm, lợi nhuận biên kém hấp dẫn so với đầu tư vào lĩnh vực khác như bất động sản, tài chính.

Doanh nghiệp FDI đóng vai trò chủ đạo trong xuất khẩu

GS.TS Nguyễn Quang Thuấn, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận trung ương cho biếtDoanh nghiệp - thành phần kinh tế tham gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại các địa phương như ở Bắc Ninh, Đồng Nai, Bình Dương phát triển công nghiệp rất tốt trên mọi phương diện. Nhưng tất cả những địa phương này chủ yếu là doanh nghiệp FDI chiếm trên 70% xuất nhập khẩu. 

Ông Trương Thanh Hoài, Cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cũng thừa nhận: Mối liên hệ, kết nối giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước lỏng lẻo, không tạo ra tác động lan tỏa giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế trong nước, dẫn đến tình trạng “một quốc gia, hai nền kinh tế”.

Theo báo cáo Bộ Công thương, tác nhân chính tạo ra chuyển dịch cơ cấu và giá trị trong công nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp FDI, chứ không phải DN trong nước. 100% doanh nghiệp FDI đóng vai trò chủ đạo trong xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam. Không có mối liên kết giữa hai khổi doanh nghiệp trong nước và FDI nếu có thì cũng rất lỏng lẻo không tạo ra tác động lan tỏa giữa hai khổi này.

Điểm nghẽn chính sách cần tháo gỡ tạo động lực

Ông Trương Thanh Hoài nêu một vấn đề đang kìm hãm sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam đó là chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam còn dàn trải, việc bố trí nguồn lực cho phát triển công nghiệp chưa đủ mạnh, chưa tạo điều kiện thuận lợi tối đa để công nghiệp phát triển, trong đó, quan trọng nhất là nhận thức về đối tượng cần hướng đến của các chính sách phát triển công nghiệp là khu vực kinh tế tư nhân chưa được chú trọng. 

Bên cạnh đó, phần lớn các địa phương còn rất thụ động trong việc triển khai thực hiện chính sách phát triển công nghiệp quốc gia. Thậm chí, còn có tình trạng địa phương còn có các chủ trương, chính sách chưa phù hợp với chủ trương của Trung ương về phát triển các ngành công nghiệp.

Chính sách phát triển khoa học và công nghệ chưa phù hợp, chưa thực sự gắn với thực tiễn, với nhu cầu của doanh nghiệp chưa phát huy được hiệu quả nguồn lực mà Nhà nước đã đầu tư, chưa tạo được đột phá chiến lược cho phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp.Bên cạnh đó, chính sách phát triển ngành công nghiệp ưu tiên chỉ được thể hiện nhạt nhòa trong vô số các ngành ưu tiên khác không có các công cụ chính sách đủ mạnh để thúc đẩy ngành công nghiệp, thể hiện công nghiệp hóa là cốt lõi của quá trình phát triển.

Ông Ngô Đức Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Công Thương) bày tỏ, do thiếu cơ sở pháp lý ở tầm quốc gia, việc phân bổ nguồn lực cho cơ chế, chính sách cho phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm, chủ lực là rất thấp, có nơi thậm chí không có cơ chế, chính sách ưu đãi hoặc phân bổ nguồn lực hoặc nếu có thì nguồn lực không tạo đủ xung lực cần thiết để thúc đẩy phát triển đột phá. 

Chia sẻ cụ thể hơn về điểm nghẽn chính sách, ông Lê Ngọc Đức - Phó Chủ tịch Tập đoàn Thành Công bày tỏ, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đi sau một số nước trong khu vực, nên gặp nhiều khó khăn, thách thức: dung lượng thị trường nhỏ, chính sách cho phát triển ngành công nghiệp ô tô chưa hỗ trợ nhiều, giá xe tại Việt Nam vẫn cao gấp 2-3 lần so với giá xe thế giới, chính sách thuế khóa không hỗ trợ người tiêu dùng. Chính vì vậy cần nhận diện những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh để tập trung chính sách ưu đãi, hỗ trợ. Đồng quan điểm, ông Phạm Văn Tài Tổng giám đốc đại diện cho Tập đoàn Thaco Trường Hải, cũng cho biết cần tập trung nguồn hỗ trợ cho các doanh nghiệp sếu đầu đàn, khi con sếu mạnh thì các doanh nghiệp nhỏ hơn đều có thể tham gia trong chuỗi vệ tinh, mà Nhà nước không phải mệt đầu.

Với những vấn đề còn tồn tại nêu trên của ngành công nghiệp Việt Nam nếu không được giải quyết, năng lực cạnh tranh của Việt Nam sẽ không được cải thiện. Các yếu tố cho tăng trưởng ở giai đoạn trước sẽ không còn phát huy được tác dụng trong giai đoạn tới, khi đó nguy cơ mắc bẫy thu nhập trung bình càng trở nên hiện hữu, Việt Nam sẽ khó đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp, nước phát triển như mục tiêu đặt ra.

Tăng cường trách nhiệm địa phương, phân cấp địa phương quy mô nào? Phân cấp và cần cơ chế giám sát và kiểm tra. Ngành nghề nào? địa phương nào? tránh tình trạng trăm hoa đua nở, mỗi nơi một mô hình, hoặc trồng chéo, dẫm chân lên nhau, cần tạo được liên kết vùng tránh cạnh tranh mà không liên kết.” một đại diện Hội đồng lý luận Trung Ương nhận định. Đại diện này cũng cho biết cần có trong các báo cáo, đề án,… làm rõ lộ trình hoàn thiện quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa để các Bộ ban ngành cùng phối hợp thực hiện. Nhiệm vụ cụ thể trong vòng 20 năm-30 năm là gì để xây dựng nguồn lực (tiền, con người, đất đai)

Trong khi Ông Trương Thanh Hoài nêu ra giải pháp, cần quán triệt tới từng cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp, từ Trung ương đến địa phương về tầm quan trọng của công nghiệp hóa trong quá trình hiện đại hóa đất nước, xác định tập trung các nguồn lực của quốc gia để phát triển công nghiệp, lấy công nghiệp làm đòn bẩy kéo theo sự phát triển của các ngành kinh tế khác, thay vì các chính sách dàn trải cho các ngành kinh tế như hiện nay. 

“Xác định rõ các tiêu chí về công nghiệp hóa để làm căn cứ xây dựng các mục tiêu cụ thể và lộ trình rõ ràng cho giai đoạn tới. Các tiêu chí phải đảm bảo cả về quy mô và chất lượng của phát triển công nghiệp, đồng thời cũng phải định vị được Việt Nam trong bức tranh toàn cầu”, ông Trương Thanh Hoài nêu cụ thể.

Theo đó, phải hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan Nhà nước về phát triển công nghiệp, thực hiện nguyên tắc “một cơ quan thực hiện nhiều việc và một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì thực hiện và chịu trách nhiệm chính” theo đúng tinh thần của Nghị quyết 18/NQ-TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đồng thời, đối tượng hướng đến của các chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam cần đặt trọng tâm vào thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp công nghiệp lớn tiềm năng và hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa.Tập trung các nguồn lực để thúc đẩy hình thành các tập đoàn công nghiệp tư nhân lớn, đóng vai trò dẫn dắt hệ thống doanh nghiệp công nghiệp nội địa và vươn ra thị trường khu vực.

Đại diện Viện nghiên cứu Chiến lược bày tỏ quan điểm đã đến lúc xây dựng pháp luật và thể chế bằng luật phát triển công nghiệp, theo đó quy định rõ ngành công nghiệp nào? Đối tượng nào? Hiện đang vướng Luật quy hoạch để tăng tính liên kết vùng bởi thực trạng ngay Tỉnh và Huyện còn cạnh tranh, thậm chí trong một khu công nghiệp còn chưa được quy hoạch,… đã đến lúc cần Luật để giải quyết mọi vướng mắc.

Đại diện Vụ pháp chế cũng cho rằng, trước những đòi hỏi của thực tế phát triển các ngành công nghiệp, hệ thống pháp luật công nghiệp trong giai đoạn tới đây cần đảm bảo thể chế hóa, khẳng định vai trò của Nhà nước trong tiếp tục khơi tạo không gian, dòng chảy, tạo dựng nền tảng cho công nghiệp phát triển.Hệ thống pháp luật phải tạo ra cơ chế, chính sách, động lực nắm bắt, tận dụng, tương tác cộng sinh các xu hướng phát triển về công nghiệp trên thế giới và khu vực để thu hút, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy nâng tầm phát triển công nghiệp trong nước.

Khẩn trương xây dựng Luật về phát triển công nghiệp sẽ là giải pháp thúc đẩy phát triển khi hoàn thiện mảnh ghép còn thiếu trong hệ thống pháp luật về công nghiệp. Đại diện Vụ pháp chế cũng cho biết: Hiện Bộ Công Thương đang trình Chính phủ và Quốc hội về Dự thảo Luật về phát triển công nghiệp.

Sau hơn 35 năm đổi mới và mở cửa nền kinh tế, Việt Nam đã dần trở thành một trong những trung tâm sản xuất công nghiệp của thế giới và thuộc nhóm quốc gia có năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) trung bình cao toàn cầu và ASEAN 4 với vị trí thứ 36 trên thế giới và đứng thứ 17 về xuất khẩu công nghiệp chế biến, chế tạo (năm 2019).

Một số ngành công nghiệp đã cơ bản hội nhập thành công vào chuỗi giá trị toàn cầu như điện tử, dệt may, da giày... Công nghiệp ngày càng khẳng định vai trò là động lực của tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Tuy nhiên, trong quá trình hình thành và phát triển, nền công nghiệp Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc gây cản trở quá trình phát triển bền vững. Do đó, cần thiết phải xây dựng Luật PTCN để phát triển nền công nghiệp quốc gia.

Dự kiến Luật này quy định về các biện pháp phát triển công nghiệp Việt Nam thông qua liên kết ngành, chuỗi giá trị trong các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; phân bố, tái phân bố, liên kết vùng trong phát triển công nghiệp; ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong các ngành công nghiệp;…

6 chính sách lớn đã được lấy ý kiến góp ý tại các phiên họp: Định hướng phát triển công nghiệp; tăng cường liên kết ngành chuyên môn hóa theo chuỗi giá trị trong các ngành công nghiệp; thúc đẩy phân bố không gian công nghiệp, liên kết vùng trong phát triển công nghiệp; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm công nghiệp; phát triển bền vững trong công nghiệp; thực hiện phân công, phân cấp trong phát triển công nghiệp.