Tiềm năng và Cơ hội của nền Kinh tế Xanh Việt Nam cho các nhà đầu tư

Tạp chí chúng tôi xin giới thiệu bài viết theo nguồn Vietnam Briefing để Quý vị hiểu thêm về nền kinh tế xanh.

Kinh tế xanh của Việt Nam là một khái niệm tương đối mới bao gồm các hoạt động kinh tế liên quan đến đại dương và biển trong khi cải thiện sinh kế và bảo tồn sức khỏe của hệ sinh thái đại dương. Biển và các vùng ven biển của Việt Nam chiếm khoảng 47-48% GDP của cả nước. Vietnam Briefing nêu bật một số đặc điểm dễ nhận thấy của nền kinh tế xanh cũng như cơ hội cho các nhà đầu tư.

Phát triển kinh tế xanh của Việt Nam là một khái niệm tương đối mới nhưng là cần thiết để giải quyết các vấn đề môi trường, lượng khí thải carbon và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên dọc theo bờ biển.

Kinh tế xanh là gì?

Kinh tế xanh là một thuật ngữ tương đối mới. Nó có nghĩa là đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển các hệ sinh thái biển đồng thời đảm bảo khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên với ít tác động đến môi trường. Nó cũng có nghĩa là xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu và thời tiết khắc nghiệt.

Ngân hàng Thế giới định nghĩa kinh tế xanh là việc sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên đại dương để tăng trưởng kinh tế, cải thiện sinh kế và việc làm, đồng thời bảo vệ sức khỏe của hệ sinh thái đại dương..

Như vậy, kinh tế xanh là trọng tâm giúp Việt Nam đạt được các Mục tiêu Phát triển Bền vững vào năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, trong đó môi trường là một trong những trụ cột của sự phát triển này.

Kinh tế xanh cũng sẽ giúp đáp ứng các mục tiêu về biến đổi khí hậu của Việt Nam. Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng mực nước biển dâng 1m sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số Việt Nam và 7% diện tích đất canh tác của Việt Nam. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mực nước biển dâng, biến đổi khí hậu có thể khiến 3846% dân số Việt Nam phải hứng chịu lũ lụt.

Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế xanh phải dựa trên sự tăng trưởng cân đối của sáu ngành công nghiệp: khai thác và nuôi trồng thủy sản; dầu khí; năng lượng tái tạo biển; du lịch biển và ven biển; lĩnh vực hàng hải; và môi trường và hệ sinh thái.

Cơ hội phát triển nền kinh tế xanh của Việt Nam

Đường bờ biển dài của Việt Nam là một lợi thế vì nằm gần các tuyến đường hàng hải quốc tế và khu vực. Các khu vực ven biển của Việt Nam nằm trong khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là cầu nối giữa một số đối tác thương mại trong khu vực và các tuyến vận tải biển. 

Đây là những điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển lĩnh vực hàng hải, đóng tàu và công nghiệp logistics với 114 cửa sông và 52 vũng nước sâu ven biển miền Trung (vũng, vịnh, đầm phá trải dài trên 60% đường bờ biển), và trên 100 vị trí xây dựng cảng biển lớn.

Việt Nam là nơi có nhiều tài nguyên thiên nhiên và có khoảng 35 khoáng sản thuộc các nhóm khác nhau: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý và đá bán quý và khoáng sản lỏng. Các mỏ cát dưới đáy biển ở tỉnh Quảng Ninh và thành phố Hải Phòng có trữ lượng lần lượt hơn 100 tỷ tấn và gần 9 tỷ tấn.

Ngoài ra, tiềm năng tài nguyên nước biển rất đáng kể với các dạng năng lượng biển đa dạng như hydrat tự nhiên, năng lượng thủy triều, năng lượng sóng, năng lượng hạt nhân nước nặng.

Việt Nam cũng giàu tài nguyên biển. Ngoài cá là nguồn lợi chính, còn có nhiều giống hải sản có giá trị kinh tế cao như tôm, cua, hải sâm, rong biển. Trữ lượng cá ở các vùng biển của Việt Nam là khoảng 5 triệu tấn/năm, với sản lượng cá đánh bắt hàng năm vào khoảng 2,3 triệu tấn.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, sản lượng nuôi trồng thủy sản biển hàng năm dự kiến ​​đạt 850.000 tấn và kim ngạch xuất khẩu ước đạt từ 800 triệu đến 1 tỷ USD. Ngoài ra, bờ biển dài 3.260 km và hàng nghìn hòn đảo là điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển du lịch biển. Dọc theo bờ biển khoảng 12 bãi biển, một số được xếp hạng là tốt nhất trên thế giới.

Các khu vực ven biển của Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều địa phương có thời gian nắng dài quanh năm, rất lý tưởng cho khách du lịch, đặc biệt là những du khách đến từ các nước có mùa đông lạnh giá.

Các quy định thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xanh

Việt Nam đã đưa ra nhiều chiến lược và chính sách để giúp chuyển đổi nền kinh tế từ “nâu” sang “xanh”, bao gồm Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và các chiến lược khác; và thực hiện nhiều cam kết quốc tế về môi trường và phát triển, chẳng hạn như đạt mức phát thải ròng bằng “0” (net zero carbon).

Việt Nam đã phê duyệt một số luật và quy hoạch tổng thể để triển khai các nhiệm vụ tăng trưởng xanh, chẳng hạn như Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, Luật Biển Việt Nam 2012, Luật Tài nguyên và Môi trường biển và hải đảo năm 2015.

Ngoài ra, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Chiến lược nêu rõ đến năm 2030, các ngành kinh tế biển sẽ được phát triển theo thứ tự ưu tiên: du lịch biển và dịch vụ; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và các khoáng sản biển khác; nuôi trồng và khai thác tài nguyên biển; các ngành công nghiệp ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

Có thể thấy rằng các ngành kinh tế sử dụng nhiều tài nguyên đã được ưu tiên thấp hơn và được thay thế bằng các ngành tiết kiệm tài nguyên như du lịch và công nghiệp hàng hải.

Điểm nổi bật của chiến lược là bao gồm nuôi trồng tài nguyên biển bên cạnh khai thác. Ngoài ra, nó còn liệt kê ngành công nghiệp năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới, chẳng hạn như điện gió, điện mặt trời trên biển, điện thủy triều và khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển (phát triển và chế biến dược phẩm biển, rong biển).

Đây là lần đầu tiên Việt Nam xây dựng các kế hoạch mạnh mẽ liên quan đến kinh tế xanh nhằm phát triển bền vững kinh tế biển theo các tiêu chuẩn quốc tế, điều này cho thấy mục tiêu của Việt Nam là hướng tới một ngành công nghiệp biển bền vững hơn.

Cơ hội cho các nhà đầu tư

Ngành hàng hải

Các nhà đầu tư hiện có nhiều cơ hội tham gia vào các dự án hàng hải sau khi quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển của Việt Nam được phê duyệt.

Quy hoạch tổng thể giai đoạn 2021 - 2030 nằm trong 5 quy hoạch quốc gia do Bộ Giao thông vận tải xây dựng và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Điểm nổi bật của quy hoạch là danh mục bảy dự án phát triển cơ sở hạ tầng sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách.

Tổng vốn cần thiết cho các dự án này trong giai đoạn 2021-2025 là khoảng 150.357 triệu đồng (6,5 triệu USD) và 146.643 triệu đồng (6,3 triệu USD) trong giai đoạn 2026-2030. Trong đó có những dự án đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà đầu tư trong và ngoài nước như cảng Lạch Huyện, cảng Trần Đề Sóc Trăng, cảng Nghi Sơn Thanh Hóa, cảng Cái Mép Hạ, hệ thống cảng cạn.

Bản thân ngành vận tải biển cũng là một ngành tiềm năng trong kinh tế biển để đầu tư với những chính sách, ưu đãi thuế hấp dẫn.

Công nghiệp điện gió ngoài khơi

Một ngành công nghiệp biển khác có thể mang lại tiềm năng đáng kể cho các nhà đầu tư nước ngoài là điện gió. Dự báo, tổng công suất điện gió sẽ tăng từ khoảng 3GW vào năm 2021 lên khoảng 13GW vào năm 2030, với việc chính phủ cũng đang tìm cách phát triển 21GW điện gió ngoài khơi vào năm 2045.

Ngoài ra, Việt Nam là nước đi đầu trong lĩnh vực chuyển đổi năng lượng trong ASEAN khi nước này có kế hoạch phát triển năng lực điện gió vượt xa các nước láng giềng như Thái Lan và Philippines.

Việt Nam có lợi thế về địa lý, đặc biệt là đường bờ biển dài hơn 3.000 km với tốc độ gió lớn, thuận lợi cho việc phát triển điện gió ngoài khơi.

Về chính sách, không giống như các nước khác, như Philippines, ở Việt Nam không có hạn chế đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài. Do đó, các nhà đầu tư có thể có 100% vốn sở hữu nước ngoài.

Việt Nam cũng đã có một giá bán điện năng hấp dẫn là 0,085 đô la Mỹ/kWh cho các dự án điện gió, điều này đã giúp thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng trước khi giá bán điện năng đó hết hạn vào ngày 1 tháng 11 năm 2021.

Du lịch

Là một ngành kinh tế biển tiết kiệm tài nguyên khác, du lịch cũng mang đến cơ hội đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Điều này chứng tỏ khả thi hiện nay khi Việt Nam đã mở cửa trở lại sau đại dịch, với các chuyến bay quốc tế nối lại và không phải yêu cầu kiểm tra nhanh COVID-19 đối với khách quốc tế nhập cảnh.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong hai tháng đầu năm 2022, khách quốc tế đến Việt Nam ước tính đạt 49.200 lượt, tăng 71,7% so với cùng kỳ năm trước.

Nhiều dự án bất động sản nghỉ dưỡng đã công bố chủ trương đầu tư hoặc chính thức mở bán trên thị trường từ đầu năm 2022.

Đặc biệt, các tỉnh miền Trung như Bình Thuận, Khánh Hòa, Thừa Thiên-Huế được mệnh danh là trung tâm du lịch ven biển cũng đã giới thiệu nhiều dự án bất động sản quy mô lớn, phục vụ cho ngành du lịch.

Kết luận

Khi Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, phát triển bền vững sẽ là chủ đề chính bao trùm tất cả các ngành kinh tế ở Việt Nam, trong đó có kinh tế biển. Do đó, với sự hoạch định chính sách của chính phủ nhằm hỗ trợ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên thuận lợi của đất nước, nền kinh tế xanh hiện đang nổi lên như một cơ hội đầu tư tiềm năng cho các nhà đầu tư.