VÀI SUY NGHĨ VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CHO CÔNG NGHIỆP CHẾ BIẾN, CHẾ TẠO

Nếu có vài triệu đô la, bạn đầu tư gì?

Một câu hỏi tưởng chừng như đơn giản nhưng không hề đơn giản, câu trả lời phản ánh môi trường đầu tư của một quốc gia.

Có nhiều cách để có câu trả lời: phỏng vấn người dân, lãnh đạo doanh nghiệp; quan sát dòng vốn đầu tư thực tế của người dân, của xã hội trong một hai thập niên trở lại đây…

Trước hết với một nhà đầu tư chuyên nghiệp, để đầu tư vào một dự án nào đó, nhà đầu tư thường đặt ra một số tiêu chí, các tiêu chí thì nhiều và nhiều tiêu chí phụ thuộc vào chủ quan của nhà đầu tư, tuy nhiên có một tiêu chí mà hầu hết các nhà đầu tư đều sử dụng là hiệu quả tài chính: Giá trị hiện tại của dự án NPV (Net Present Value) hoặc tỷ suất lợi nhuận IRR (Internal Return Rate) để xem dự án đầu tư có hiệu quả không? Nếu NPV dương hoặc IRR lớn hơn lãi suất ngân hàng thì dự án có thể coi là khả thi. Thoạt tiên, ai cũng nghĩ hai tiêu chí này là rất ổn, nhưng thực tế hai tiêu chí này là không đủ mà nhiều lúc có những tiêu chí không rõ ràng nhưng lại đem lại hiệu quả rất lớn cho nhà đầu tư.

Với đa số người dân, đặc biệt là người dân bình thường, tiết kiệm là một kênh an toàn, một số khác năng động hơn thì đầu tư vào trái phiếu, với một phần nhỏ nhưng năng động hơn nữa thì đầu tư vào chứng khoán. Có thể thấy rằng với đầu tư vào tiết kiệm, trái phiếu lãi suất nhiều khi không bù đắp được cho phần mất giá của đồng tiền. Còn đầu tư vào chứng khoán thì chúng ta ai cũng biết, có những lúc thu được lãi suất rất cao, nhưng có những lúc cũng có thể bị lỗ rất nhiều.

Với nhiều nhà đầu tư năng động, bất động sản là một kênh yêu thích, thậm chí có những thời điểm, người người, nhà nhà tham gia vào đầu tư bất động sản. Lãi suất trong lĩnh vực này thu hút một lượng vốn lớn của xã hội. Việc này cũng có lý do của nó: lãi suất đầu tư trong lĩnh vực bất động sản tăng hàng ngày, chưa kể việc tăng giá của bất động sản còn được thổi phồng bởi đội ngũ “cò đất”, nó làm cho nhiều người nuôi dưỡng giấc mơ nhân gấp bội vốn đầu tư trong thời gian ngắn, nhiều người nuôi mộng kiếm triệu đô sau một đêm. Đây chính là điều lo ngại mà chúng ta đều nhận thấy, đầu tư buôn bán bất động sản không thể làm gia tăng tài sản của xã hội.

Một số ít người có kiến thức về một số ngành nghề, có mối quan hệ xã hội thì có thể đầu tư vào một số lĩnh vực sản xuất như đầu tư vào nhà máy thủy điện, điện mặt trời, điện gió, khai thác mỏ…

Có một điều đáng buồn là, rất ít trong số những người được hỏi sẽ đầu tư vào sản xuất, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực cơ khí. Nguyên nhân có nhiều và có thể kể ra như sau: trước hết thị trường cho sản xuất nói chung và cho ngành cơ khí nói riêng phải cạnh tranh rất gay gắt đặc biệt với hàng hóa đến từ Trung Quốc, do chính sách hỗ trợ phi thị trường của Chính phủ Trung Quốc, hàng hóa của họ không những đáp ứng mọi loại chất lượng mà giá cả còn rất cạnh tranh. Thông thường với các nước đang phát triển, thị trường cho ngành cơ khí được bảo hộ bởi nhà nước đặc biệt là cho dự án đầu tư công hay dự án có qui mô thị trường lớn, tuy nhiên, ở Việt Nam trong thập kỷ trở lại đây, những cơ chế, chính sách để bảo vệ thị trường rất yếu, không đủ để hỗ trợ các nhà đầu tư; nguyên nhân thứ hai là lãi suất ngân hàng lớn, lợi nhuận cho doanh nghiệp sản xuất cơ khí không lớn rất khó để trả được lãi suất ngân hàng 8-10%; nguyên nhân thứ ba, chúng ta chưa thực sự tham gia được vào chuỗi cung toàn cầu, nhiều doanh nghiệp không biết bắt đầu từ đâu, để trở thành nhà cung cấp cho công ty nước ngoài, nó đòi hỏi một quá trình sát hạch khắt khe, tốn thời gian, đôi khi nó còn đòi hỏi phải có những đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ, con người… để chế tạo được một số sản phẩm có thể tham gia được vào chuỗi cung. Tuy nhiên, không có gì đảm bảo là sau khi đầu tư thì sẽ có được đơn hàng. Vẫn là câu chuyện “quả trứng có trước hay con gà có trước”.

Với một môi trường đầu tư như đã nói ở trên, có thể nói rất khó để thu hút các nhà đầu tư Việt tham gia vào lĩnh vực chế biến, chế tạo, và càng khó để thu hút đầu tư vào lĩnh vực cơ khí, có thể có một số nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào công nghiệp chế biến, chế tạo tại Việt Nam, nhưng yếu tố lan tỏa của các doanh nghiệp FDI còn rất hạn chế. Nếu các doanh nghiệp FDI này rút khỏi Việt Nam, thì kim ngạch xuất khẩu sản phẩm chế biến, chế tạo sẽ như thế nào? đây là một câu hỏi mà các nhà quản lý, các nhà làm chính sách cần suy nghĩ. Hơn thế nữa, nếu không thu hút được các nhà đầu tư Việt Nam vào các lĩnh vực chế biến, chế tạo cơ bản (bao gồm cả lĩnh vực cơ khí) thì làm sao Việt Nam có thể cơ bản trở thành một nước phát triển với thu nhập cao như đã được đặt ra tại Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII. Thiết nghĩ, đã đến lúc phải xây dựng những cơ chế, chính sách cụ thể để thực hiện Nghị quyết của Đảng, nếu không có chiến lược, lộ trình cụ thể ngay từ bây giờ, chúng ta có thể lại có thể một lần nữa không hoàn thành Nghị quyết của Đảng như đã từng bị lỡ “cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020”.

             

Sản phẩm trưng bày tại Triển lãm CNHT (ảnh XM)