Việt Nam ở đâu trên cuộc đua siêu công nghệ? (kỳ 1)

Năm 2020,  quy mô nền kinh tế Việt Nam với GDP đạt 340,6 tỷ USD, là nền kinh tế lớn thứ 37 trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ 4 Đông Nam Á. GDP bình quân đầu người đạt trên 3.500 USD, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia tăng trưởng cao nhất thế giới.

Ảnh Internet

Hình ảnh, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Việt Nam đứng thứ 12/66 nền kinh tế mới nổi về sức khỏe tài chính, được xếp hạng bởi Tạp chí The Economist vừa công bố trong tháng 5/2020. Nổi bật lên nhờ ngành kinh tế viễn thông và xuất khẩu hàng điện tử, ô tô và một số mặt hàng công nghệ cao.

Đến nay, Viettel, FPT là công ty Viễn thông và công ty IT lớn nhất Đông Nam Á. Các doanh nghiệp, tập đoàn Vingroup, Thaco, Thành Công Motor nổi lên như những ngôi sao sáng. Khối doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng 40% GDP, chiếm 85% lực lượng lao động ở Việt Nam hiện tại.

Nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trên đà phát triển khá thuận lợi. Gần đây, công ty kiểm toán hàng đầu thế giới PwC (PricewaterCoopers) đã đưa ra những nhận định về vị trí của nền kinh tế Việt Nam trên thị trường thế giới. Theo kết quả của nghiên cứu “Thế giới năm 2050” của PwC – một dự báo về triển vọng tăng trưởng GDP của 32 nền kinh tế lớn nhất.

Ảnh Internet

Theo PwC , Việt Nam, Ấn Độ, Bangladesh sẽ là các nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất từ nay đến 2050 ( khoảng 5%). PwC cũng dự đoán năm 2050 Việt Nam sẽ có thể vươn tới vị trí 20 trong bảng xếp hạng kinh tế toàn cầu, nếu Việt Nam tiếp tục những đột phá trong phát triển công nghệ cao, đặc biệt của nền kinh tế số.

Các bạn còn nhớ, trong bài đầu tiên Cuộc đua công nghệ của top 10 siêu cường quốc thế giới, chúng tôi đã cho các bạn biết một số quốc gia còn tiến xa hơn bởi đã nghiên cứu và triển khai công nghệ 5.0 trong khi số còn lại vẫn đang ở cuộc cách mạng 4.0 và cuộc Cách mạng 5.0 cũng được dự báo sẽ chỉ diễn ra vào năm 2035. Như vậy, chúng ta thấy, khoảng cách giữa các cuộc cách mạng giờ đây đang được rút ngắn lại hay nói chính xác hơn, là tốc độ của cuộc cách mạng giờ đây diễn ra nhanh như vũ bão.

Các chuyên gia cho rằng có ba yếu tố cho thấy Cuộc CMCN 4.0 không phải là sự kéo dài của CMCN lần ba, đó là tốc độ, phạm vi và hệ thống. Tốc độ phát minh những công nghệ đột phá hiện nay chưa từng có trong lịch sử. Khi so sánh với các cuộc CMCN trước đó, cuộc cách mạng lần thứ tư đang phát triển theo hàm số mũ chứ không phải là tốc độ tuyến tính. Hơn nữa, nó đang phá vỡ cấu trúc của hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Chiều rộng và chiều sâu của những thay đổi này báo trước sự chuyển đổi của toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị.

Trong bối cảnh đó, Công nghệ góp phần xoá đi khoảng cách giữa các lĩnh vực, quốc gia, doanh nghiệp; tạo ra sự phát triển quy mô toàn cầu hóa, và những quốc gia nào làm chủ sớm những công nghệ mới nhất, sẽ có tầm ảnh hưởng lớn nhất đến toàn cầu, sẽ làm chủ cuộc chơi và thống trị thế giới.

Trong các kỳ trước, chúng ta nói đến cuộc CMCN 4.0 với một loạt các công nghệ tiên tiến nhất, và về cơ bản, chúng thuộc ba lĩnh vực chính:  Lĩnh vực Kỹ thuật số bao gồm dữ liệu lớn (Big Data), vạn vật kết nối Internet (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), lượng tử;  Lĩnh vực Công nghệ sinh học gồm ứng dụng trong nông nghiệp, thủy sản, y dược, chế biến thực phẩm, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, hóa học và vật liệu; Lĩnh vực Vật lý gồm Robot thế hệ mới, in 3D, xe tự lái, các vật liệu mới (graphene, skyrmions…), công nghệ nano.

Chúng ta đang ở giai đoạn khởi đầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Và đâu là công nghệ chúng ta sẽ lựa chọn và bắt buộc phải tiến lên chinh phục? Trước tiên, hãy xem lại ta đang có những nguồn lực gì?

Việt Nam sẽ trở thành quốc gia số vào năm 2030. Tầm nhìn Việt Nam đến 2045 là trở thành quốc gia phát triển hiện đại, thuộc nhóm các nước có thu nhập cao, trở thành thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD, vậy Việt Nam cần sớm có những công nghệ nào để thúc đẩy phát triển kinh tế khi soi vào 3 lĩnh vực chính trên?

Tiến sỹ Lucy Cameron Tổ chức khoa học quốc gia Australia (Data61|SCIRO) cho biết tương lai của nền kinh tế phụ thuộc vào vị trí của Việt Nam trong bản đồ số của khu vực và mức độ ứng dụng các sản phẩm và dịch vụ số của Chính phủ, cộng đồng và ngành công nghiệp.

Báo cáo của UNESCO cho thấy, tỷ lệ phần trăm đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ trên tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) trung bình toàn thế giới đã tăng từ 1,73% năm 2014 lên 1,97% năm 2018. Việt Nam đang duy trì ở mức có năm cao nhất lên 1,8% và thấp nhất 1,4%, tuy nhiên, mục tiêu của Chính phủ là chi 2% ngân sách hàng năm cho đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, nguồn kinh phí này chưa bao gồm từ các doanh nghiệp FDI và tư nhân.

Theo báo cáo của Bộ KH&CN, năm 2020 Việt Nam tiếp tục giữ vững thứ hạng 42/131 quốc gia, vùng lãnh thổ về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu và tiếp tục được xem là hình mẫu của các nước đang phát triển khác trong việc thiết lập đổi mới sáng tạo như một ưu tiên quốc gia.

Trong thành công này, xuất khẩu hàng công nghệ cao có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng dương 2,91%, là một trong những quốc gia tăng trưởng cao nhất trong khu vực và trên thế giới khi mà cả thế giới bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid.

Một điều đáng mừng ngay từ 2013, báo chí đã đăng tin Việt Nam lọt top 10 quốc gia 'sành' công nghệ số (nguoiduatin.vn). Theo bảng xếp hạng Liên minh Viễn thông Thế giới (ITU), Việt Nam đứng thứ 9 thế giới về số lượng dân số thành thạo các sản phẩm công nghệ kỹ thuật số. Nói về những người thành thạo công nghệ kỹ thuật số, tổ chức này dùng thuật ngữ "digital native" để chỉ những người ở độ tuổi từ 15-24 tuổi, sử dụng Internet được ít nhất 5 năm. Theo bảng thống kê 10 nước có nhiều công dân sử dụng công nghệ số thành thạo nhất của ITU, Trung Quốc đứng thứ nhất với 75,2 triệu người; Mỹ đứng thứ 2 với 41,3 triệu người. Theo sau là các nước Ấn Độ, Brazil, Nhật, Mexico, Nga, Đức và Việt Nam đứng thứ 9 với 7,5 triệu người, Anh đứng thứ 10 với 7 triệu người.

Và theo PWC, lực lượng lao động có trình độ của Việt Nam đang gia tăng và hiện đang ở cấu trúc dân số tốt nhất, trong đó 45% dưới 30 tuổi, đây là tỷ lệ tuyệt vời để phát triển kinh tế năng động.

Việt Nam đã có những tập đoàn, công ty về công nghệ bản địa nổi tiếng thế giới đi lên từ những “mầm ươm” cách đây hàng vài chục năm như Viettel, FPT, VNPT, MobiFone… có những tập đoàn mới tham gia lĩnh vực công nghệ, công nghiệp như Vingroup, Hòa Phát, Hyundai Thành công, Thaco,… nhưng những tập đoàn này đều có thể tham gia toàn cầu hóa, xuất khẩu nhiều mặt hàng có giá trị công nghệ cao trong lĩnh vực viễn thông, ô tô xe máy, điện thoại, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng, sắt thép… tăng trưởng bứt phá.

Ông Nguyễn Thanh Nam - Phó tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp, Viễn thông Quân đội (Viettel) từng cho biết trong một diễn đàn: với hơn 30 năm thành lập và phát triển, Viettel hiện là tập đoàn Công nghệ viễn thông hàng đầu Việt Nam nhờ chuyển đổi số. Đến nay, Viettel có doanh thu hàng năm đạt 20 tỉ USD, lợi nhuận 40 nghìn tỉ đồng, vào top 500 thương hiệu lớn nhất thế giới. Thương hiệu viễn thông của Viettel đứng số 1 Đông Nam Á, đứng thứ 28 của thế giới. Viettel không những mạnh về viễn thông, mà giờ đây còn sản xuất và phân phối điện thoại, khí tài,… Viettel thành lập các công ty cấp 4 tại 6 quốc gia. Giá trị của Viettel được đánh giá cao do sự hiện diện và đóng góp ở 10 thị trường nước ngoài. Mới đây nhất, Viettel xuất khẩu thành công khí tài phòng không. Công nghệ chế tạo radar phòng không rất phức tạp, trên thế giới chỉ có một số ít quốc gia làm chủ được nó để thiết kế ra những khí tài cảnh giới hiện đại, tinh xảo.  Từ năm 2019, tập đoàn tái cơ cấu tổ chức, chú trọng khâu thu hút nhân tài, thành lập các tổng công ty chuyên trách về chuyển đổi số. Tập đoàn chú trọng chuyển dịch nguồn nhân lực phục vụ công nghệ thông tin, công nghệ cao với chế độ đãi ngộ xứng đáng. Hiện trong lĩnh vực an ninh mạng, trong top 100 cao thủ thế giới có 4 người làm tại Viettel.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, FPT ghi nhận doanh thu 16.228 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 2.936 tỷ đồng, lần lượt tăng 19,2% và 20,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Tốc độ tăng trưởng tốt nhờ vào nỗ lực của FPT trong việc triển khai các giải pháp công nghệ mới trong lĩnh vực Low code, Cloud và Blockchain cho khách hàng quốc tế. Tại thị trường nước ngoài, doanh thu dịch vụ công nghệ thông tin đạt 6.683 tỷ đồng, tăng 15%; Đáng chú ý, 6 tháng đầu năm nay, FPT đã thu về 11 dự án lớn, có quy mô trên 5 triệu USD/dự án, tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2020. Năm 2020 đánh dấu bước chuyển mình vượt bậc của FPT khẳng định được vị thế trên đấu trường quốc tế khi ký kết nhiều hợp đồng tư vấn chuyển đổi số có giá trị lớn cho các tập đoàn hàng đầu thế giới. Vượt qua hàng trăm công ty công nghệ thông tin tên tuổi, FPT đã trở thành đối tác của hãng ô tô lớn hàng đầu tại Mỹ, với hợp đồng trị giá 150 triệu USD hay giành hợp đồng 200 triệu USD tư vấn và triển khai chuyển đổi số cho Tập đoàn Dầu khí quốc gia Malaysia, và trở thành đối tác công nghệ chiến lược của hãng đồ uống lớn nhất thế giới tại Nhật với doanh thu tiềm năng lên tới 100 triệu USD…

Tập đoàn Vingroup vừa mới tham gia lĩnh vực công nghệ số đã tuyên bố sẽ phát triển để trở thành tập đoàn công nghệ trong vòng 10 năm tới. Mục tiêu là đến năm 2028, Vingroup sẽ trở thành Tập đoàn Công nghệ – Công nghiệp – Dịch vụ đẳng cấp quốc tế trong đó Công nghệ là mảng kinh doanh chủ đạo. Để đạt được mục tiêu ấy, Vingroup đã hợp tác với hơn 50 trường đại học hàng đầu Việt Nam. Tập đoàn sẽ cùng các trường hỗ trợ những dự án nghiên cứu khoa học – công nghệ, chia sẻ, trao đổi kiến thức giữa các chuyên gia… Bên cạnh đó, Vingroup còn cam kết sẽ tiếp nhận khoảng 100.000 sinh viên tốt nghiệp các ngành công nghệ thông tin trong vòng 10 năm tới. Vingroup xác định chia mảng công nghệ mới được thành lập ra thành nhiều hướng khác nhau. Tập đoàn sẽ đầu tư nhân sự và hạ tầng, thành lập công ty VinTech (tách ra từ VinSmart) để phát triển, sản xuất phần mềm. VinTech sẽ tập trung nghiên cứu AI (trí tuệ nhân tạo), sản xuất phần mềm và nghiên cứu phát triển nguyên vật liệu thế hệ mới. Ngoài ra, Vingroup còn thành lập Viện nghiên cứu Dữ liệu lớn và Viện Nghiên cứu công nghệ cao Vin Hi-tech (VHT) để phục vụ các dự án nghiên cứu và phát triển của mình. Vingroup muốn đầu tư xây dựng một trung tâm nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ cao với tên gọi VinTech City, theo mô hình Thung lũng Silicon tại Hà Nội. VinTech City sẽ tạo ra một hệ sinh thái toàn diện cho các startup về công nghệ thông tin, bao gồm các khu văn phòng và các dịch vụ hỗ trợ startup giống như Thung lũng Silicon.
Tập đoàn này muốn thành lập Quỹ đầu tư về công nghệ để tìm kiếm các cơ hội hợp tác, phát triển những dự án công nghệ, trí tuệ nhân tạo có tiềm năng ứng dụng trên toàn cầu. Ngoài tài chính, các đối tác của Vingroup còn được phép sử dụng hệ sinh thái của tập đoàn để thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm.VinTech cũng đã nhanh chóng thành lập Quỹ Hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học – Công nghệ ứng dụng nhằm hỗ trợ các dự án nghiên cứu của giảng viên và sinh viên trong nước. Người ta kỳ vọng rằng quỹ đầu tư này sẽ thúc đẩy phong trào nghiên cứu và thử nghiệm các nghiên cứu khoa học công nghệ, góp phần nâng cao năng lực của kỹ sư Việt khi ra trường. Quỹ này cũng sẽ hỗ trợ cho Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam nhằm góp phần thúc đẩy ngành công nghiệp – công nghệ Việt Nam phát triển hơn nữa.

Về mảng công nghiệp và y tế, Vingroup sẽ tiếp tục đẩy mạnh sản xuất ô tô và các thiết bị điện, gia dụng thông minh để xuất khấu sang các nước Asean và thế giới. Tập đoàn cũng đặt mục tiêu cho từng mảng lĩnh vực kinh doanh. Theo đó, đối với mảng công nghệ – công nghiệp, năm 2021, VinFast dự kiến ra mắt năm mẫu xe máy điện và ba mẫu ô tô tự lái thông minh VF e34, VF35 và VF36; trong đó mẫu VF e34 chỉ có phiên bản xe điện, mẫu VF35 và VF36 sẽ có hai phiên bản xăng và điện. Các mẫu xe mới giúp VinFast tiếp tục giữ vững vị thế tại thị trường nội địa, đồng thời đưa VinFast bước ra thị trường quốc tế khi hai mẫu xe VF35 và VF36 sẽ được mở bán tại thị trường nước ngoài gồm Mỹ, Canada và châu Âu từ cuối năm và bàn giao từ năm 2022. Thị trường Mỹ trở thành thị trường mục tiêu trong năm 2021, là cơ sở để VinSmart tiến tới chiến dịch toàn cầu hóa cả ở mảng điện thoại và gia công xuất khẩu. Bên cạnh đó, các tuyến xe buýt điện VinBus sẽ bắt đầu được vận hành chính thức từ giữa năm 2021. Vingroup đặt kỳ vọng sẽ đưa tổ hợp sản xuất ô tô VinFast dẫn đầu khu vực Đông Nam Á. Chưa hết, mới đây, Vingroup sản xuất linh kiện máy thở cho Medtronic. Dự kiến, 50.000 đơn vị linh kiện máy thở do Vingroup sản xuất sẽ được xuất khẩu sang Mỹ và Ireland. Medtronic PLC là một trong những Tập đoàn lớn nhất thế giới về giải pháp, dịch vụ và công nghệ y tế, chuyên cung cấp các dịch vụ và giải pháp chăm sóc sức khỏe trên 150 quốc gia. Sản phẩm máy thở của Medtronic được xem là thiết bị sinh tồn trong cuộc chiến chống lại đại dịch Covid-19, trong đó, quạt thổi khí (air blower) là cấu phần cốt lõi.

Thaco (Trường Hải) theo kế hoạch năm 2020, sẽ xuất khẩu tổng cộng hơn 1.200 xe du lịch Kia các loại sang các nước ASEAN, trong đó có hơn 600 xe qua Myanmar. Thaco cũng hướng đến việc cung cấp tất cả các sản phẩm Kia do công ty sản xuất tại Việt Nam cho thị trường Myanmar, sau Cerato và Soluto sẽ là Sedona, Seltos… Mới đây, Thaco xuất khẩu sơmi-rơmoóc sang thị trường Mỹ. Cùng với các đối tác, Trường Hải phấn đấu để khu công nghiệp Chu Lai sẽ là trung tâm sản xuất ô tô lớn, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước trong khu vực. Sau 22 năm hình thành và phát triển, THACO đã trở thành Tập đoàn công nghiệp đa ngành, trong đó Cơ khí và Ô tô là chủ lực, đồng thời phát triển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh bổ trợ cho nhau, tạo ra giá trị cộng hưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh, bao gồm: Nông nghiệp; Đầu tư xây dựng; Logistics và Thương mại & Dịch vụ. Khu Công nghiệp Cơ khí và Ô tô Thaco Chu Lai được xem là trung tâm sản xuất ô tô và công nghiệp hỗ trợ lớn nhất Việt Nam. Tại đây có 32 công ty, đơn vị trực thuộc, bao gồm: các nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô, các nhà máy linh kiện phụ tùng và Tổ hợp cơ khí; cảng Chu Lai và các đơn vị giao nhận - vận chuyển đường bộ, đường biển; các công ty đầu tư - xây dựng, trường Cao đẳng THACO và các đơn vị hỗ trợ khác.

TC Motor cũng đang xây dựng khu sản xuất và lắp ráp xe khách, xe bus, trung tâm nghiên cứu và phát triển, khu công nghiệp hỗ trợ, vừa đáp ứng nhu cầu trong nước vừa hướng tới xuất khẩu sang khu vực ASEAN. Thị trường chính mà Hyundai Thành công dự kiến xuất khẩu sẽ là Philippines. Các mẫu xe Hyundai cỡ nhỏ sẽ được xuất khẩu trước tiên. TC Motor đặt mục tiêu Trở thành Thương hiệu số 1 trong ngành Công nghiệp Ô tô tại Việt Nam và là nhà sản xuất OEM và linh kiện chuyên nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi cung ứng ngành Công nghiệp Ô tô toàn cầu. Từng bước kiến tạo bản sắc riêng và đưa ngành Công nghiệp Ô tô Việt Nam lớn mạnh trên bản đồ thế giới.

Startup công nghệ Việt Nam hấp dẫn quỹ đầu tư nội địa (msn.com)

Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách và quan tâm đầu tư các cơ sở hạ tầng quan trọng, phát triển ngành công nghệ thông tin - truyền thông, thúc đẩy thương mại điện tử, ứng dụng công nghệ hiện đại phù hợp với xu thế của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển thịnh vượng. Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam có 100.000 doanh nghiệp công nghệ số. Thủ tướng cũng yêu cầu xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam đến năm 2030, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành trong năm 2020. Ventures ghi nhận hơn một nửa trong tổng số lượng thương vụ đầu tư vào startup công nghệ Việt Nam được thực hiện bởi các quỹ đầu tư nội địa. Tổng số vốn đầu tư vào các startup công nghệ Việt Nam đạt 451 triệu USD, giảm 48% so với năm 2019, Sau giai đoạn sụt giảm mạnh vào quý I, hoạt động đầu tư mạo hiểm bắt đầu hồi phục từ quý II trở đi. Nguồn vốn ổn định vào các startup giai đoạn đầu đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe của toàn bộ hệ sinh thái đầu tư mạo hiểm. Thanh toán và bán lẻ tiếp tục là lĩnh vực nhận được nhiều nhất những khoản đầu tư giá trị lớn nhờ vai trò chủ chốt trong sự phát triển của nền kinh tế Internet. Một số ngành như HRTech (công nghệ nhân sự), PropTech (công nghệ bất động sản) tiếp tục thu hút vốn đầu tư, trong khi lượng vốn đổ vào các ngành như EdTech (công nghệ giáo dục), MedTech (công nghệ y tế), và SaaS (phần mềm dạng dịch vụ) cũng đang tăng dần lên do sự thay đổi trong hành vi của người tiêu dùng và các doanh nghiệp sau Covid-19.

Việt Nam đang là điểm đến của các “đại bàng” công nghệ

Một trong những “Chú đại bàng” to nhất dẫn dụ nhất thế giới là Samsung đã có mặt tại Việt Nam hơn 10 năm. Tập đoàn Samsung của Hàn Quốc có tổng vốn đầu tư khoảng 17 tỷ USD tại Việt Nam. Để nâng tầm năng lực nghiên cứu và chất lượng kỹ sư, Tổ hợp Samsung Việt Nam đã cho xây dựng Trung tâm R&D quy mô lớn nhất Đông Nam Á tại Hà Nội, dự kiến hoàn thành vào cuối 2022 và sẽ tăng quy mô nhân lực từ 2.100 người hiện nay lên 3.000 người.  

Hơn 10 năm trước, sau quyết định đầu tư 1 tỷ USD vào Việt Nam của “đại bàng Mỹ”, Tập đoàn Intel, hàng loạt “đại bàng” công nghệ thế giới khác cũng đã đến Việt Nam. LG, Kyocera, Nidec… và có Samsung như trên, là các nhà đầu tư nằm trong danh sách này, đã biến Việt Nam trở thành điểm đến của các “đại gia công nghệ”.

Và bây giờ, sau thương chiến Mỹ - Trung, đặc biệt là sau Covid-19, gây đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, một làn sóng đầu tư dịch chuyển đang đổ vào Việt Nam. Trong làn sóng đó, sự xuất hiện của các “đại bàng” là  các “đại gia” công nghệ đã gây sự chú ý lớn của dư luận.

“Đại bàng” công nghệ đang đến Việt Nam đầu tư vào sản xuất linh kiện máy tính, điện thoại thông minh cho Appe. Không còn là đồn đoán, Tập đoàn Pegatron (Đài Loan), nhà cung ứng linh kiện cho Apple, Sony, Microsoft, Lenovo… đã bắt đầu hiện thực hóa kế hoạch đầu tư tại Việt Nam.

Rất nhiều thông tin cho biết, Microsoft, Google sẽ sản xuất các sản phẩm của mình tại Việt Nam. Thậm chí, cũng đã có những giấc mơ iPhone “made in Vietnam”, nhất là khi cả Foxconn, Luxshare đã liên tục tăng vốn đầu tư, con số cũng đã lên tới cả tỷ USD. Ngay cả Intel, “đại bàng” đầu tiên tại Việt Nam, gần đây cũng đã nhắc đến kế hoạch mở rộng đầu tư tại Việt Nam.

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trong lĩnh vực viễn thông. Công nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin và điện tử đang trở thành ngành kinh tế chủ chốt của Việt Nam, với tổng doanh thu của 40.000 doanh nghiệp trong lĩnh vực này năm 2017 lên tới 110 tỷ USD, tương đương khoảng 1/2 tổng quy mô cả nền kinh tế. Đến hết tháng 6/2021, tổng số doanh nghiệp công nghệ số là 61.359 doanh nghiệp, tăng 2.982 doanh nghiệp so với cuối năm 2020 và Việt Nam chạm mốc 120 tỷ USD. Uớc tính trong 6 tháng đầu năm 2021, tổng doanh thu công nghiệp ICT đạt khoảng 65 tỷ USD, tăng trưởng khoảng 22% so với cùng kỳ năm 2020.

Vậy đến khi “vườn ươm” doanh nghiệp công nghệ của Thủ tướng nở hoa lên tới 100.000 doanh nghiệp năm 2030, các bạn cứ hình dung đi, thành tựu sẽ lớn thế nào?

Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam vẫn mong muốn ngày càng có nhiều hơn nữa các tập đoàn công nghệ, đặc biệt là các doanh nghiệp 4.0 sẽ tới và đầu tư tại Việt Nam. Do đó, đối với lĩnh vực FDI, các chuyên gia đánh giá Việt Nam mở hơn, tạo điều kiện hơn so với các nước trong khu vực như Trung Quốc và Thái Lan. Và điều đó, cho thấy kết quả gần 2 năm trở lại đây, làn sóng đầu tư đang đổ về Việt Nam và nhiều tên tuổi lớn đã đến Việt Nam như trên.

Chúng ta đang đi đúng hướng bởi trong các chiến lược và qui hoạch của hầu hết các quốc gia trên thế giới, việc sản xuất và xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao (CNC) là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, mang lại giá trị cao trong cơ cấu của nền kinh tế và điều này đang đúng với chúng ta.

Các mặt hàng xuất khẩu sản phẩm CNC bao gồm hàng không, vũ trụ, ô tô, máy tính, trang thiết bị y tế, dược phẩm, một số loại hóa chất, vật liệu mới, thiết bị cơ điện tử/thông minh, một số loại vũ khí và các sản phẩm, hàng hóa khác được tạo ra trong quá trình nghiên cứu triển khai mới thương mại hóa như sản phẩm công nghệ số, công nghệ viễn thông thuộc ngành công nghiệp ICT (Information and Communication Technologies-thông tin và truyền thông)

Mặt hàng đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2020 là điện thoại và linh kiện với giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt xấp xỉ 51,2 tỷ USD, chiếm khoảng 18,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 1% so với năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 44,7 tỷ USD, tăng 24,4%. Những năm gần đây nổi lên vai trò chi phối của nhóm hàng điện tử, máy tính, điện thoại và linh kiện. Trị giá xuất khẩu của 2 nhóm hàng này đang tiến dần tới mốc 100 tỷ USD (năm 2019 đạt 87 tỷ USD, năm 2020 ước tính đạt gần 96 tỷ USD) với tỷ trọng ngày càng tăng, chiếm tới 33,9% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2020. Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn đến chủ yếu từ khối các doanh nghiệp FDI trong 7 tháng đầu năm, chiếm tới hơn 73,8%.

Do đó, Việt Nam bắt đầu khởi động chuyển đổi số quốc gia với 3 trụ cột chính là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, và đây là ngành Việt Nam có thể thực sự làm chủ và Việt Nam rất có tiềm năng. Có thể nói, Việt Nam là một trong những quốc gia tiên phong trên thế giới đã xây dựng một chương trình chuyên đề về chuyển đổi số quốc gia, được Chính phủ phê duyệt.

Năm 2021 được nhận định là thời điểm "vàng" cho chuyển đổi số. Tất cả các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân cần phải hành động ngay để khát vọng chuyển đổi số của Việt Nam sớm thành hiện thực. Và nếu xét cơ cấu các sản phẩm CNC, thì Việt Nam đang có thế mạnh và đạt được thành tích cao trong mảng công nghiệp ICT.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia, lĩnh vực ICT đã, đang và tiếp tục đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia.

Riêng năm 2020, tờ VNeconomy đã đưa tin doanh thu công nghiệp ICT đạt 120 tỷ USD, trong đó công nghiệp phần cứng đạt trên 107 tỷ USD; công nghiệp phần mềm đạt trên 5 tỷ USD; công nghiệp nội dung số đạt trên 900 triệu USD…

Đặc biệt, trong giai đoạn 2016-2019, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nước dẫn đầu thế giới về sản xuất công nghiệp phần cứng, điện tử - viễn thông; đứng thứ hai về sản xuất điện thoại và linh kiện; thứ 10 thế giới về sản xuất điện tử và linh kiện, vượt qua nhiều cường quốc như Hoa Kỳ, Đức, Ấn Độ, Brazil, Singapore. Đây cũng là 2 mặt hàng chiếm vị trí số 1 và 3 trong danh sách 10 sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đưa ngành công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử viễn thông Việt Nam trở thành ngành xuất khẩu và xuất siêu lớn nhất của nền kinh tế. Năm 2019 xuất siêu trong lĩnh vực phần cứng, điện tử ước đạt 28 tỷ USD. Việt Nam đứng thứ 13 thế giới về về dịch vụ công nghệ số.

Công nghiệp ICT đã trở thành một trong những ngành có đóng góp lớn trong GDP cả nước với khoảng 5,59% năm 2018, đến năm 2019 (7,55%) và năm 2020 dự kiến đóng góp khoảng 7,3%; nếu tính cả khối FDI thì công nghiệp ICT đóng góp trên 16% GDP. Đặc biệt, trong bối cảnh khó khăn của dịch Covid-19, ICT càng thể hiện vai trò quan trọng trong thời đại kinh tế số, với mức tăng trưởng dự báo tương đối cao, 7,5% trong năm 2020. 

Theo chuyên gia công nghệ, để biết tâm thế của một quốc gia đã sẵn sàng cho kỷ nguyên kết nối mới có thể nhìn trên bốn phương diện: Chính phủ, người tiêu dùng, nhà cung cấp và nhà mạng. Chúng ta đang thấy tín hiệu tốt, nhiều điểm sáng. Tuy nhiên, như đã phân tích, vị thế có thể bị xóa bỏ giờ đây dễ và nhanh hơn bao giờ hết nếu trong thời gian tới chúng ta không tiếp tục nhanh hơn với những công nghệ tiên tiến nhất mà top 10 siêu cường quốc đang chạy đua tranh giành quyền lực. Và để biết sức mạnh của nền kinh tế chúng ta ngoài xem các chỉ số GDP, GNP, GNI còn phải lưu ý chỉ số đổi mới công nghệ, hiệu suất lao động. (còn tiếp)