VAMI kiến nghị Ban Kinh tế Trung ương gỡ khó doanh nghiệp cơ khí thời Covid

ảnh internet

Khó khăn của “làn sóng” đại dịch Covid lần thứ 4 khủng khiếp hơn gấp nhiều lần so với 3 lần trước, đặc biệt với khối doanh nghiệp Cơ khí.

Chúng ta nghe nói nhiều về tỷ lệ doanh nghiệp phải ngưng hoặc cầm chừng sản xuất theo phương án “3 tại chỗ” ở những vùng tâm dịch phía Bắc, như Bắc Ninh, Bắc Giang dù kiềm chế tốt nhưng vẫn bị phát sinh nhiều chi phí, nhưng khi tình hình vẫn chưa kiểm soát dịch bệnh hiệu quả như hiện nay thì hậu quả còn lớn hơn rất nhiều đặc biệt là khối doanh nghiệp ở khu vực phía Nam (Cần Thơ có tới 95% doanh nghiệp tạm dừng hoạt động bởi Covid)

Vừa an sinh xã hội vừa duy trì sản xuất là nhiệm vụ sống còn, không để nền kinh tế bị kiệt quệ, doanh nghiệp phá sản, hiệu ứng domino thì việc khôi phục nền kinh tế sau này sẽ khó mà thực hiện được, đặc biệt đối với những lĩnh vực đòi hỏi nguồn nhân sự với trình độ tay nghề cao, đào tạo lâu khó như ngành cơ khí. Do đó, việc tiêm phòng cho lực lượng lao động này cần thực hiện nhanh và đầy đủ.

Khi doanh nghiệp ngừng hay dán đoạn sản xuất, người lao động bị tạm dừng hoặc mất việc làm phải đi làm việc khác, chắc chắn nguồn nhân sự sẽ rơi rụng nhiều. Đó là bài toán khiến các doanh nghiệp cơ khí đau đầu nhất.

Cuộc chiến với dịch bệnh còn dai dẳng, khó lường khiến Chính phủ buộc phải phát huy sức mạnh của toàn hệ thống từ Bộ Chính Trị, các Bộ Ban ngành đến doanh nghiệp phải thay đổi phương án phòng chống dịch bằng “pháo đài” 5T.

Và để thực hiện chỉ đạo của Ban Kinh tế Trung ương tại công văn số 736/CV BKTTU về việc cung cấp thông tin phục vụ xây dựng chuyên đề báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hiệp Hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI) đã có văn bản gửi Ban Kinh tế Trung ương nhằm gỡ khó cho doanh nghiệp.

Thông qua văn bản số 67-2021/VAMI, Hiệp Hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam mong muốn đồng hành và tìm giải pháp tháo gỡ những khó khăn cho các doanh nghiệp hội viên.
Trong đó, VAMI đánh giá tác động của đại dịch ảnh hưởng đến khối doanh nghiệp cơ khí là rất nặng nề kể từ khi làn sóng đại dịch thứ 4. Những khó khăn nổi bật nhất đó là khối doanh nghiệp cơ khí không có nhiều lợi nhuận như những lĩnh vực khác nên khi dịch bệnh kéo dài, việc khối lượng sản xuất chỉ còn duy trì ở mức 30% dưới 50% thay vì từ 50% như ở thời điểm trước bởi nguồn lực của các doanh nghiệp cũng dần bị cạn kiệt. Đối với những đơn vị cần thực hiện có sự tham gia của các chuyên gia thì họ thực sự gặp khó khăn, khi dịch bệnh khiến việc đi lại bị kéo dài hoặc hủy bỏ,… Những doanh nghiệp còn duy trì được sản xuất, chi phí “3 tại chỗ” đội lên rất nhiều, nhiều doanh nghiệp cho biết họ duy trì chỉ để người lao động có việc làm. Vì vậy, doanh nghiệp đã hoạt động trong rất nhiều khó khăn. Dù cố gắng sản xuất, chi phí lại bị cao, theo đó sản phẩm có giá thành cũng sẽ cao; Sản xuất đã khó khăn lại càng vô cùng chật vật do vấn đề logistic đang tạo “điểm nghẽn” lớn của nền kinh tế dẫn đến việc hủy bỏ đơn hàng đã xuất hiện nhiều hơn. Nguy cơ, nhiều doanh nghiệp sẽ phải ngừng hoạt động hơn là điều khó tránh khỏi.

Có lẽ chúng ta không thể quên, Mục tiêu của Việt Nam đưa lĩnh vực chế biến chế tạo đạt tỷ lệ 25% GDP  vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. Do đó, mục tiêu tổng quát đến năm 2035, ngành cơ khí Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm cơ khí, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản phẩm cơ khí của thị trường trong nước.

Chúng ta cũng biết, lõi của ngành công nghiệp chính là ngành cơ khí. Cơ khí rất quan trọng đối với cả nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải, dầu khí… như đường sắt cao tốc, tàu điện ngầm, các nhà máy nhiệt điện, than, khí, do đó khối doanh nghiệp cơ khí đang là nền tảng, là “xương sống” giúp cho các ngành khác phát triển, nhằm tạo nhiều sản phẩm có giá trị cao cho xuất khẩu, hoặc tránh nhập siêu nhiều mặt hàng từ các nước trong khu vực và trên thế giới. “Chúng ta không bảo vệ và nuôi dưỡng các doanh nghiệp cơ khí  nhất là trong những lúc khó khăn như thế này, sẽ vô cùng khó để vực lại các doanh nghiệp cơ khí sau đại dịch, chứ chưa nói gì đến việc thực hiện mục tiêu dài hơn của ngành.” Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch VAMI cho biết.

Điều lúc này rất cần là vai trò của Nhà nước và Chính phủ khi triển khai thực hiện các dự án công, cần ưu tiên khối doanh nghiệp nội địa và dành việc cho các doanh nghiệp cơ khí trong các dự án đấu thầu- Ống Sáng khẳng định.

Nhân đây, VAMI cũng đề xuất nhiều chính sách về bình ổn nguyên vật liệu, chính sách về thuế (miễn thuế VAT, giảm thuế trước bạ, giãn thuế tiêu thụ đặc biệt) chính sách về tài chính (giãn nợ, trợ cấp lãi suất vay 3%),…

Đó là về các giải pháp ngắn hạn, VAMI mong muốn những đề xuất, kiến nghị của mình sẽ giúp doanh nghiệp thành viên nói riêng và các doanh nghiệp nói chúng mau chóng vượt qua đại dịch để có “sức khỏe” ổn định. Vai trò của các doanh nghiệp đầu chuỗi, những doanh nghiệp, tập đoàn lớn sẽ cần thể hiện rõ vào lúc này hơn bao giờ hết khi biết sẻ chia, đoàn kết tháo gỡ cùng các doanh nghiệp nhỏ hơn nhằm khắc phục tình trạng chia cắt và phân tán ngành cơ khí.

Về lâu dài, Hiêp hội mong muốn Chính phủ có những chính sách giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia nhiều hơn vào chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng toàn cầu. Cần sớm quy hoạch chiến lược phát triển ngành với chiến lược nội địa hóa (đơn cử như Chiến lược phát triển ngành ô tô).  Đặc biệt, Chính phủ sớm có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, thiết kế, đầu tư công nghệ, thiết bị sản xuất, áp dụng công nghệ và mô hình quản lý sản xuất tiên tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên đầu vào, nâng cao năng suất người lao động, chất lượng sản phẩm cơ khí, đa dạng hóa và khác biệt hóa sản phẩm. Về phía các doanh nghiệp, cũng sớm tự chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh bằng đổi mới sáng tạo, tự thiết kế sản xuất, vật tư, máy móc thiết bị trong nước sẵn sàng cho việc hội nhập toàn cầu.

Dưới đây là toàn văn văn bản gửi Ban Kinh tế Trung ương

Thực hiện chỉ đạo của Ban Kinh tế Trung Ương tại Công văn số 736/CV-BKTTW về việc “Cung cấp thông tin phục vụ xây dựng chuyên đề báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư” Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) xin báo cáo như sau:

1.Đánh giá ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 tới các doanh nghiệp cơ khí:

Ba đợt bùng phát dịch bệnh trước đây, các doanh nghiệp cơ khí có bị ảnh hưởng, nhưng mức độ chưa thực sự nghiêm trọng, các doanh nghiệp cơ khí vẫn đảm bảo trên sản xuất đáp ứng trên 50% sản lượng theo kế hoạch. Tuy nhiên, đợt bùng phát dịch lần thứ tư đã ảnh hưởng thực sự nghiêm trọng tới hầu hết các doanh nghiệp của ngành cơ khí như sau:

- Không thể tổ chức sản xuất:  Nguyên nhân do không mua được vật tư, mua được vật tư thì không thể chuyên chở, giao hàng đến cơ sở sản xuất; Công nhân không thể tới được nhà máy, hoặc nếu sản xuất theo phương án 3 tại chỗ, một cung đường, hai địa điểm đều quá tốn kém, phát sinh nhiều chi phí như test Covid, chi phí ăn ở, nhiều kỹ sư công nhân hoặc bị cách ly, hoặc không yên tâm sản xuất, hoặc bỏ việc; Với các dự án có chuyên gia nước ngoài, các chuyên gia không thể di chuyển, bay, nhập cảnh theo tiến độ dự án…

- Chi phí cho sản xuất tăng cao làm doanh nghiệp không thể cân đối lỗ lãi, bảo đảm thu bù chi: Chi phí cho logistics trong nước và nước ngoài đều tăng rất cao, thậm chí gấp nhiều lần chi phí vận chuyển thông thường; Với các đơn hàng đã gia công xong nhưng không thể giao hàng, đã giao hàng nhưng chưa thanh toán được tiền làm đọng vốn, tăng chi phí do lãi suất. Các chi phí phụ do Covid như giãn cách khi di chuyển, test, cách ly, chậm tiến độ…

- Không có đơn hàng: Với một số doanh nghiệp còn có thể tổ chức sản xuất thì gần như không có đơn hàng mới do các khách hàng nước ngoài không đặt hàng hoặc các doanh nghiệp trong nước bị ảnh hưởng bởi Covid cũng phải dừng sản xuất, kinh doanh…

- Thêm vào đó là giá vật tư, nguyên vật liệu và máy móc thiết bị nhập ngoại đều tăng giá cao, làm tăng giá thành sản phẩm.

- Các dự án lớn đang thi công như Nhiệt điện Sông Hậu, Nhiệt điện Nghi Sơn… đều bị chậm tiến độ, đội giá thành.

Đánh giá chung, đợt bùng phát Covid lần thứ tư đã làm nhiều doanh nghiệp không duy trì được hoạt động phải tạm ngừng sản xuất. Các doanh nghiệp còn sản xuất cũng chỉ duy trì được sản lượng khoảng 30% đến 50% kế hoạch. Nếu dịch còn tiếp diễn như hiện tại sẽ còn có nhiều doanh nghiệp sẽ phải tạm ngừng hoạt động.

2. Đề xuất: Để tháo gỡ khó khăn, Vami có một số đề xuất như sau:

- Xây dựng các biện pháp nhằm bình ổn giá nguyên vật liệu, thậm chí phải xây dựng giá trận cho một số loại thép; Có biện pháp để đảm bảo giao thông vận tải hợp lý để lưu thông nguyên vật liệu, hàng hóa, giảm giá tiền điện sản xuất;

- Chính sách về Thuế và chi phí sản xuất: Miễn thuế VAT trong năm 2021, giảm 50% trong các năm tiếp theo; Giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong năm 2021 và 2022; Được chấp nhận các loại chi phí phát sinh cho đại dịch…;

- Chính sách về tài chính: Cho các doanh nghiệp được giãn nợ, trợ cấp lãi suất vay ít nhất 3% trong thời gian đại dịch; Cho vay trả lương với lãi suất 0% trong thời gian đại dịch.

- Các chính sách liên quan đến người lao động: Tạm dừng đóng bảo hiểm xã hội BHXH cho người lao động trong thời gian đại dịch, có chính sách hỗ trợ người lao động đã đóng BHXH đầy đủ đến thời điểm hiện tại, giảm tỷ lệ đóng quỹ công đoàn. Kiến nghị doanh nghiệp trong khu vực thực hiện Chỉ thị 16 được miễn đóng kinh phí công đoàn 5 tháng cuối năm 2021.

- Triển khai tiêm vaccine sớm nhất tời người lao động, cho phép người lao động được phép di chuyển và đi làm khi đã tiêm một mũi vaccine và thực hiện 5K;

- Với ngành ô tô: Giảm thuế trước bạ 50% cho xe CKD; Giãn nộp thuế tiêu thụ đặc biệt tới cuối năm.

- Tạo đơn hàng cho các doanh nghiệp bằng cách đấu thầu trong nước với các dự án đầu tư công;

- Về lâu dài: Cần nâng cao năng lực tự đáp ứng vật tư, máy móc thiết bị trong nước. Cần xây dựng, qui hoạch, chiến lược phát triển các ngành gắn liền với chiến lược nội địa hóa như việc xây dựng đường sắt cao tốc, tàu điện ngầm, các nhà máy nhiệt điện than, khí… với lộ trình nội địa hóa nhằm giảm giá thành và chủ động trong đầu tư xây dựng các dự án lớn của đất nước.

Trên đây là một số đánh giá và đề xuất của Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam giúp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam.