Phát triển chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi

Vừa qua, tại khách sạn Hotel du Parc, 84 Trần Nhân Tông, Hà Nội đã diễn ra Hội thảo chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi “Thách thức và giải pháp đề xuất đối với nhà cung cấp kết cấu móng và cơ khí khác tại Việt Nam” do đại sứ quán Đan Mạch tại Việt Nam, liên danh Tập đoàn Orsted (Đan Mạch) và Tập đoàn T&T (Việt Nam) tổ chức. Tham dự hội thảo còn có đại diện Bộ công thương, các nhà công ty Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, cơ khí. Tới dự hội thảo còn có ông Đào Phan Long, chủ tịch Hiệp hội cơ khí Việt Nam (VAMI).

Ông Per Mejnert Kristensen, Chủ tịch Khu vực Châu Á Thái Bình Dương và ông Sebastian Hald Buhl, giám đốc quốc gia tại Việt Nam đã giới thiệu về Tập đoàn Orsted, các hoạt động tại Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác chiến lược với Tập đoàn T&T, các hoạt động trong lộ trình phát triển chuỗi điện gió ngoài khơi tại Việt Nam.   Orsted là công ty năng lượng do chính phủ Đan Mạch nắm cổ phần chi phối và là đơn vị tiên phong trong ngành công nghiệp điện gió ngoài khơi (ĐGNK) và là đơn vị EPC về ĐGNK giàu kinh nghiệm nhất thế giới. Công ty có 30 năm kinh nghiệm phát triển, xây dựng và vận hành các trang trại ĐGNK. 25% tổng công suất toàn cầu được xây dựng bởi Orsted, 15GW vận hành vào cuối năm 2025, 39GW vận hành vào cuối 2030, với đội ngũ hơn 3.000 nhân viên chuyên trách trong lĩnh vực ĐGNK. Tập đoàn Orsted đã lắp đặt trang trại ĐGNK đầu tiên trên thế giới Vindeby tại Đan Mạch vào năm 1991, với công suất 5MW và trang trại ĐGNK lớn nhất thế giới Hornsea 1 vào năm 2020, với công suất 1.218 MW. Ngoài ra, Tập đoàn cũng đã xây dựng trang trại ĐGNK đầu tiên ngoài châu Âu, Formosa 1 vào năm 2019, với công suất 128MW (đầu tiên tại Đài Loan) và trang trại ĐGNK Block Island năm 2015, với công suất 30MW (đầu tiên tại Mỹ).

Ông Carsten Baltzer Rode, Phó đại sứ Đan Mạch, phát biểu khai mạc Hội thảo

Vào ngày 09/09/2021, Orsted và T&T ký biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược trong lĩnh vực ĐGNK tại Việt Nam. Hiện tại, Liên danh Tập đoàn Orsted và T&T đang cùng phối hợp làm việc với các đối tác và nhà cung ứng trong nước nhằm triển khai các dự án ĐGNK đầu tiên tại Việt Nam. Phát triển chuỗi cung ứng cho các dự án ĐGNK là một trong các thế mạnh lớn nhất của Orsted cũng như đã trở thành cách tiếp cận tiêu chuẩn của Tập đoàn trên phạm vi toàn cầu. Sự kết hợp giữa vị thế là đơn vị dẫn đầu toàn cầu trong ngành ĐGNK và sự am hiểu sâu sắc về thị trường trong nước, Liên danh là đối tác hỗ trợ Việt Nam triển khai ngành công nghiệp ĐGNK mới mẻ.

Dựa trên các đánh giá phân tích chi tiết của chuyên gia Orsted, Liên danh đề xuất hai dự án sẽ được hoàn thành trước 2030 như sau:

  • Giai đoạn 1 của dự án ĐGNK Hải Phòng, chiếm một phần tổng diện tích đề xuất của dự án tại vùng biển ngoài khơi Hải Phòng.
  • Giai đoạn 1 của dự án ĐGNK Tuy Phong, chiếm một phần tổng diện tích đề xuất của dự án tại vùng biển ngoài khơi Bình Thuận.

Giai đoạn 1 của cả hai dự án trên đều được triển khai xây dựng và sẽ đưa vào vận hành vào cuối thập kỷ 2020.

Ông Sebastian Hald Buhl, giám đốc quốc gia tại Việt Nam, giới thiệu về Tập đoàn Orsted

Phương pháp tiếp cận của Orsted để xây dựng ngành công nghiệp nội địa:

  • Tìm kiếm và bồi dưỡng các nhà cung cấp mới thông qua hướng dẫn và huấn luyện nhất quán;
  • Chuỗi sự kiện và hội thảo thực tế dành cho nhà cung cấp;
  • Chia nhỏ phạm vi thành những phần “dễ tiêu hóa” giúp các nhà cung cấp mới trong nước tham gia vào ngành dễ dàng hơn;
  • Thu hút các nhà cung cấp toàn cầu đầu tư vào trong nước và làm việc với các nhà cung cấp địa phương;
  • Sử dụng các dự án hàng đầu để đem lại các đơn đặt hàng giúp vượt qua rào cản đầu tư ban đầu cho các nhà cung cấp mới;
  • Mục tiêu cuối cùng là xuất khẩu ra thị trường ĐGNK toàn cầu.

Ông Đào Phan Long, chủ tịch VAMI tham dự hội thảo và làm việc với lãnh đạo Tập đoàn Orsted

Đến năm 2030, khu vực Châu Á- Thài Bình Dương sẽ có 100GW điện gió ngoài khơi, sẽ cần 250 tỷ USD đầu tư cần thiết để xây dựng. Việt Nam có nhiều công ty trong chuỗi cung ứng có tiềm năng cao đến từ các ngành hiện có; có vị trí chiến lược tốt để trở thành trung tâm của chuỗi cung ứng đáp ứng nhu cầu khổng lồ này, nhưng cần có ngành ĐGNK trong nước mạnh để khởi động lĩnh vực này. 

Theo đề xuất của Tập đoàn Orsted, với khuôn khổ phù hợp, một ngành công nghiệp cao mới có thể ra đời tại Việt Nam:

  • ĐGNK mang lại chuỗi giá trị đa dạng, không nên chỉ tập trung vào một vài hạng mục quen thuộc;
  • Rào cản gia nhập cao khiến quy định ổn định và hiệu quả trở nên quan trọng;
  • Các dự án quy mô lớn là công cụ hiệu quả để đảm bảo các khoản đầu tư vào chuỗi cung ứng;
  • Quy định về nội địa hóa khiến ĐGNK đắt hơn và ngành công nghiệp trong nước kém cạnh tranh hơn;
  • Tận dụng kinh nghiệp và danh tiếng của các công ty phát triển quốc tế để khởi động ngành.

Các thách thức tiêu biểu đối với phát triển ĐGNK:

Thách thức tiêu biểu dưới góc nhìn của nhà cung cấp:

  • Chế tạo sản xuất hàng loạt (20-100 chiếc) (50%)
  • Công suất dành cho ĐGNK (44%)
  • Công suất chung (38%)
  • Thiết bị máy móc (38%)
  • Xử lý bề mặt (31%).

Theo kinh nghiệm của Orsted, giải pháp đề xuất là:

  • Đầu tư để hỗ trợ sản xuất quy mô lớn;
  • Tài chính ổn định và mạnh;
  • Thiết lâp quy trình sản xuất hiệu quả và cạnh tranh;
  • Kinh nghiệm và kiến thức về kết cấu móng ngoài khơi trong giai đoạn phát triển.

Phát biểu tại Hội thảo, bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn T&T cho rằng, phát triển ĐGNK ở Việt Nam vẫn là lĩnh vực còn rất mới. Vì vậy, còn nhiều vấn đề cần được giải quyết sớm và thỏa đáng ngoài xây dựng khuôn khổ pháp lý, các cơ chế, chính sách khuyến khích phù hợp thì phát triển và hình thành chuỗi cung ứng nội địa cho ĐGNK được coi là vô cùng quan trọng. Đây là cơ sở cho việc giảm giá thành nguồn ĐGNK trong những thập kỷ tới và cũng là động lực chính cho việc sản xuất hydrogen xanh từ ĐGNK nhằm đóng góp việc giảm dần và thay thế nhiên liệu hóa thạch trong các nhà máy nhiệt điện để đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 của Việt Nam vào năm 2050 theo cam kết của chính phủ Việt Nam tại COP26.

Mong muốn chính sách hỗ trợ:

Kế hoạch và chiến lược:

  • Quy hoạch phát triển dài hạn và rõ ràng với ĐGNK Việt Nam;
  • Chiến lược rõ ràng để phát triển chuỗi cung ứng;

Hỗ trợ hành chính:

  • Đơn giản hóa và rút ngắn thủ tục hải quan cho quá trình tạm nhập tái xuất;
  • Cơ chế thị trường mở cho các nhà cung cấp tham gia vào ngành công nghiệp ĐGNK;

Ưu đãi kinh tế:

  • Ưu đãi (thuế, hỗ trợ, vv..) cho các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng ĐGNK;
  • Hỗ trợ cơ chế cho các nhà sản xuất.