THAM LUẬN CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ

THAM LUẬN CỦA HIỆP HỘI DOANH NGHIỆP CƠ KHÍ

Kính thưa Bộ trưởng Bộ Công Thương,

Kính thưa các vị lãnh đạo các bộ, ban, ngành trung ương và địa phương

Kính thưa quý vị đại biểu

Thay mặt Hiệp hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, tôi xin trân trọng cám ơn Bộ trưởng đã cho phép đại diện Hiệp hội được tham luận tại Hội nghị tổng kết ngành Công Thương một số vấn đề cần thiết nhằm thúc đẩy công nghiệp cơ khí chế tạo Việt Nam phát triển, thực hiện vai trò của mình trong chương trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.

            Báo cáo của Vami đặc biệt chú ý đến bối cảnh về chiến tranh thương mại, dịch bệnh, chiến tranh, trình độ phát triển của khoa học công nghệ.

1. Bối cảnh:

Thứ nhất, các nước mặc dù hội nhập rất sâu, rộng đều có những chính sách bảo hộ thị trường rất mạnh mẽ, một số nước có nền kinh tế thị trường định hướng bởi nhà nước, việc định hướng, kiểm soát, hỗ trợ của nhà nước với các ngành công nghiệp, với các doanh nghiệp còn mạnh mẽ hơn nữa.

Bối cảnh đáng lưu ý thứ hai là, các nước nhỏ với nền sản xuất phụ thuộc nhiều vào nước ngoài như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ, chuyên gia, logistic bị ảnh hưởng rất nặng nề khi thế giới có những biến đổi như đại dịch Covid những năm 2020 – 2021 hoặc cuộc chiến giữa Nga và Ucrine(máy móc, thiết bị không nhữngtăng giá vài chục phần trăm trong năm qua mà tiến độ giao hàng cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng).

Thứ ba, công nghệ gia công, chế tạo đã phát triển vượt bậc trong vài thập kỷ gần đây đã tạo nên năng suất suất lao động cao vượt bậc so với công nghệ truyền thống. Đây là lợi thế cho những người đi sau, lợi thế cho những nước đang phát triển.

Thứ tư, tiến trình tư nhân hóa tại Việt Nam đã bước đầu tạo nên một số doanh nghiệp lớn như Thaco Trường Hải, Huynh đai Thành Công, Vinfast đây có thể là doanh nghiệp hạ nguồn tạo điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ. Ngoài ra một số doanh nghiệp Việt Nam đã nâng cao được năng lực kỹ thuật, quản lý và đang tham gia vào chuỗi cung toàn cầu trong ngành công nghiệp hỗ trợ.

2.Hiện trạng ngành cơ khí Việt Nam

Ước tính, trong vòng năm năm trở lại đây tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn ngành cơ khí đạt 35% nhu cầu của thị trường nội địa.

Với lĩnh vực cơ khí phục vụ cho việc sản xuất máy móc, thiết bị, các nhà máy, các công trình công nghiệp: Hầu hết các máy và thiết bị đều phải nhập ngoại ngoại trừ một số thiết bị Chính phủ định hướng chế tạo trong nước như thiết bị cơ khí thủy công của nhà máy thủy điện, một số thiết bị của nhà máy nhiệt điện như hệ thống cung cấp than, thiết bị lọc bụi tĩnh điện, hệ thống thải tro xỉ, máy biến thế các loại, các hệ thống vận chuyển, kết cấu thép; các thiết bị thăm dò, khai thác dầu khí như Giàn khoan Tam Đảo 3, Tam Đảo 5, các giàn DK, các thiết bị nổi phục vụ thăm dò, khaithác dầu khí.Về năng lực ta hoàn toàn có thể làm chủ nếu có chiến lược và lộ trình thích hợp, ví dụ ta có thể làm chủ xây dựng nhà máy chế luyện bô xít với tỷ lện nội địa hóa đến trên 50%, JIG hàn vỏ ô tô (bộ JIG hàn thân vỏ ô tô của Vinfast đã được nội địa hóa hoàn toàn bởi Viện Nghiên cứu Cơ khí, với giá thành rẻ hơn nhiều sản phẩm nhập ngoại).

Riêng về công nghiệp ô tô, Các công ty Vinfast, Thaco, Thành Công đã có những kết quả đáng ghi nhận về việc gia tăng mức độ làm chủ công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, đặc biệt, Tập đoàn Thaco Trường Hải đã đầu tư một khu công nghiệp lớn với năng lực gia công không chỉ cho cơ khí ô tô mà còn thiết bị công nghiệp.

Công nghiệp chế tạo, sản xuất đồ gia dụng đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận như: rất nhiều đồ gia dụng cung cấp cho thị trường nội địa đã bắt đầu cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại đến từ các nước trong khu vực như sản phẩm chế tạo bởi Kangaru, Sunhouse…

Ngành công nghiệp phụ trợ đã thu được một số kết quả trong vài năm trở lại đây nhờ Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành những cơ chế, chính sáchphù hợp,đặc biệt Cục Công nghiệp đã có chương trình hỗ trợ doanh nghiệp rất thiết thực về nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao trình độ quản lý và quản trị doanh nghiệp, về tìm kiếm khách hàng, về đào tạo nguồn nhân lực…đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia được vào chuỗi cung toàn cầu và sản phẩm được cung cấp cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam cũng như các xuất khẩu.Tuy nhiên, số lượng các công ty tham gia vào chuỗi cung toàn cầu còn chưa nhiều, chủng loại hàng hóa chất lượng cao khiêm tốn, giá trị hàng hóa của ngành công nghiệp hỗ trợ cũng chưa được như mong đợi.

Như vậy, trong thời gian qua, chúng ta đã có những định hướng, cơ chế, chính sách tốt để phát triển công nghiệp hỗ trợ cho cơ khí, đây là bước đi quan trọng để các doanh nghiệp cơ khí có thể tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh với thương hiệu của riêng mình.Tuy vậy, ta còn chưa ban hành được định hướng, cơ chế, chính sách để làm chủ thị trường trong nước như điện gió, điện khí, hệ thống đường sắt nội đô, hệ thống đường sắt cao tốc… Cần lưu ý rằng, phát triển công nghiệp hỗ trợ có thể tạo ra nhiều công ăn việc làm nhưng thâm dụng lao động và giá trị thặng dư không cao, chỉ khi tạo ra được các sản phẩm hoàn chỉnh với thương hiệu của mình chúng ta mới có được giá trị thặng dư cao và làm chủ được việc đầu tư xây dựng các công trình của đất nước.

3. Phát triển ngành cơ khí

Theo dự đoán, tổng nhu cầu về máy móc, thiết bị từ nay đến năm 2035 ước tính khoảng 400 tỷ USD*, thị trường đề cập ở trên chưa kể đến sản phẩm của công nghiệp hỗ trợ.Thị trường 400 tỷ USD là lợi thế rất lớnđể phát triển cơ khí nói riêng và phát triển kinh tế đất nước nói chung. Làm chủ được việc cung cấp 50% nhu cầu cầu này cũng đem lại lợi ích lớn cho đất nước:

Thứ nhất, nếu chúng ta làm chủ việc thiết kế, chế tạo các sản phẩm cơ khí sẽ làm giảm giá thành sản phẩm: đặc biệt cho các nhà máy công nghiệp, các công trình lớn của đất nước. Thông thường, giá thành máy móc thiết bị hoặc công trình công nghiệp chế tạo trong nước rẻ hơn mua từ nước ngoài 10% đến 30%.

Thứ hai, tự chủ trong đầu tư, khi làm chủ về công nghệ thiết kế, chế tạo thiết bị, ta có thể làm chủ về thực hiện dự án không lệ thuộc vào nhà thầu nước ngoài dẫn đến chậm trễ, tăng giá khi thực hiện dự án… Có thể kể ra một số ví dụ sau: với hai dự án bô xít khi Trung Quốc kéo giàn khoan trái phép vào Vịnh Bắc Bộ, dự án bị đình trệ và chậm 2 đến 3 năm cho mỗi dự án, thiệt hại hàng trăm triệu USD, những thiệt hại tương tự cũng rất lớn trong các đại dự án bị đổ bể thời gian qua.Với cơ khí giao thông như tàu cao tốc, đường sắt trong thành phố, nếu làm chủ về công nghệ, không những giá thành đầu tư rẻ mà giá thành cho vận hành, bảo hành, bảo trì rất rẻ.

Thứ ba, chỉ có phát triển ngành cơ khí kết hợp với phát triển công nghiệp điện tử, viễn thông Việt Nam mới có thể có được nguồn vũ khí giá rẻ và hiện đại để đảm bảo đủ sức mạnh đối phó với kẻ thù khi chiến tranh.

Chúng ta đều biết rằng, ngành cơ khí cơ khí đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài, lợi ích ngắn hạn không cao, nhưng ít ai để về dài hạn lợi ích nó đem lại rất lớn cho Quốc gia. Ví dụ, do làm chủ về thiết kế, chế tạo thiết bị cơ khí thủy công, giá thành cung cấp thiết bị này cho dự án thủy điện Lai Châu, Sơn La rẻ bằng 60-70 % giá thiết bị nhập ngoại, thời gian thi công ngắn hơn vài năm làm giảm đáng kể giá thành dự án. Điều này có nghĩa là, không chỉ doanh nghiệp cơ khí có công ăn việc làm mà nhà nước là người hưởng lợi nhiều nhất do giảm được giá thành cho các dự án đầu tư. 

      Việc nội địa hóa các thiết bị trong thời gian tới hoàn toàn có thể thực hiện được nếu chúng ta có chiến lược và lộ trình thực hiện cụ thể.

4. Kiến nghị giải pháp

  1. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ.
  2. Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt các ngành có giá trị đầu tư lớn trong chiến lược phát triển của Quốc gia như: đường sắt cao tốc, tàu điện trong thành phố; thiết bị y tế, thiết bị ngành năng lượng; khai thác chế biến bô xít, khai thác chế biến khoáng sản; công nghiệp hóa chất; công nghiệp khai thác, thăm dò offshore, vận tải biển, nhà ga hàng không, cầu cảng;công nghiệp ô tô; máy nông nghiệp; công nghiệp vũ khí có gắn vớiviệc nội địa hóa thiết bị. Với các ngành có nhu cầu đầu tư máy móc, thiết bị lớn cần xây dựng chiến lược để ngành cơ khí có thể chế tạo cung cấp các thiết bị trong nước, hạn chế tối đa nhập khẩu máy móc, thiết bị.

Kính thưa Bộ trưởng,

Việc này cần sự phối hợp của nhiều bộ, ngành, từng bộ, ngành riêng lẻ không đủ sức đảm nhiệm, các doanh nghiệp Việt kiến nghị Bộ trưởng trình Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành phối hợp thực hiện.

Các doanh nghiệp Việt, ngành cơ khí Việt rất mong Chính phủ, Bộ Công Thương chỉ đạo để nguồn tài nguyên to lớn “thị trường 400 tỷ USD”sẽ thực sự là nguồn lực để phát triển kinh tế đất nước, là nguồn lực để phát triển ngành cơ khí nước nhà.

Nếu Chính phủ, Bộ Công Thương cho phép Hiệp hội xin được tham gia cùng các bộ ngành xây dựng chiến lược, lộ trình để sử dụng nguồn tài nguyên này có lợi nhất cho đất nước.

Hoàn thiện một số cơ chế chính sách về thuế, tín dụng, đất xây dựng nhà máy cho công nghiệp cơ khí.

Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam tin tưởng rằng, với sự quan tâm của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Công Thương,nếu có được chính sách bảo hộ thị trường một cách hợp lý ngành cơ khí chắc chắn sẽphát triển, sẽ đảm đương được vai trò của mình trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước.

Nhân dịp năm mới sắp đến, thay mặt các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, chúc Thủ tướng Chính phủ, chúc quí vị đại biểu sức khỏe và thành công.

Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.

(*) Tổng đầu tư điện gió theo qui hoạch điện VIII đến năm 2030 là khoảng 25.000 MW, đến năm 2045 khoảng 100.000 MW, giá trị đầu tư ước tính lần lượt là khoảng 50 tỷ USD và 200 tỷ USD. Đầu tư cho nhà máy điện chạy khí hóa lỏng 30 tỷ USD đến năm 2030 và 45 tỷ USD đến năm 2045.

Theo qui hoạch Số: 519/QĐ-TTg và 568/QĐ-TTg đến năm 2030 đường sắt đô thị cho thành phố Hà Nội trên 20 tỷ USD, cho Thành phố Hồ Chí Minh trên 14,2 tỷ USD.

Như vậy riêng cho 3 lĩnh vực trên đến năm 2030, Việt Nam đầu tư 114,2 tỷ USD, đến năm 2045 là 284 tỷ USD. Nếu chúng ta xây dựng chiến lược, lộ trình để nhận chuyển giao công nghệ kết hợp đầu tư, chũng ta có thể cung cấp được máy móc, thiết bị, dịch vụ 45 tỷ đến năm 2030 và khoảng 100 tỷ đến năm 2045. Như vậy không những ta có thể phát triển được nền công nghiệp cơ khí, đêm lại công ăn việc làm mà cón giảm được giá thành đầu tư, tự chủ trong quá trình đầu tư, xây dựng và vận hành thiết bị.

Phó Giáo sư –Tiến sĩ Nguyễn Chỉ Sáng

Tổng thư ký VAMI