Thị trường lớn, ngành công nghiệp ô tô có còn cơ hội

Nhiều ý kiến cho rằng, việc bãi bỏ quá muộn quy định liên quan tới tỷ lệ nội địa hóa và mức độ rời rạc của linh kiện ô tô nhập khẩu chính thức được bãi bỏ (từ 01/10/2022) và chậm chễ trong việc đưa các các chính sách hỗ trợ,… đang làm mất cơ hội phát triển của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam dù thị trường bắt đầu lớn.

Quy định lạc hậu tồn tại gần 20 năm

Phát triển công nghiệp ô tô thực chất là phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. “Chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 16/7/2014, đặt ra mục tiêu đến năm 2020 cơ bản hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô, phấn đấu đáp ứng khoảng 35% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước.

Tuy vậy, tỷ lệ nội địa hóa bình quân đến nay mới dao động ở mức từ 7-10%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu đặt ra. Một trong những nguyên nhân khiến cho công nghiệp hỗ trợ kém phát triển, kéo dài trong nhiều năm, là do quy định liên quan tới tỷ lệ nội địa hóa và mức độ rời rạc của linh kiện ô tô nhập khẩu. Cả thời gian dài, chính sách của Việt Nam chỉ khuyến khích lắp ráp ô tô, không thúc đẩy sản xuất.

Theo ông Đào Phan Long, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp cơ khí Việt Nam, từ năm 2004, Chính phủ đã thay đổi định hướng quản lý hoạt động sản xuất, lắp ráp ô tô, bãi bỏ hình thức phân loại theo mức độ rời rạc của bộ linh kiện ô tô như CKD, IKD, SKD nhập khẩu và chuyển qua dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy định chung về cơ sở vật chất, về dây chuyền công nghệ. Tuy nhiên, quy định về mức độ rời rạc của bộ linh kiện ô tô nhập khẩu vẫn được áp dụng để tính thuế. Nói một cách đơn giản, Việt Nam vẫn đếm số mảnh của một bộ linh kiện ô tô khi nhập về lắp ráp trong nước, theo quy định phải có độ rời rạc càng nhiều càng tốt.

Trên thực tế, chính sách này chỉ khuyến khích các doanh nghiệp lắp ráp ô tô mà không thúc đẩy phát triển sản xuất linh kiện trong nước. Trong khi thuế suất thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc (giai đoạn 2004-2017) ở mức cao thì các doanh nghiệp ô tô tại Việt Nam chỉ cần đầu tư một dây chuyền lắp ráp, với 4 công đoạn cuối gồm: hàn, sơn, lắp ráp và kiểm định, sau đó nhập toàn bộ bộ linh kiện về, có độ rời rạc đúng quy định, là được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi thấp. Từ đó, lắp thành xe bán ra thị trường.

Trong khi đó, các quốc gia trong khu vực, như Indonesia, đã chuyển qua việc tính thuế nhập khẩu bộ linh kiện theo giá trị từ đầu những năm 2000. Chẳng hạn, doanh nghiệp chỉ nhập khẩu 50% giá trị bộ linh kiện, còn 50% mua trong nước thì sẽ được ưu đãi thuế nhập khẩu. Giá trị bộ linh kiện nhập khẩu càng thấp càng được ưu đãi lớn. Qua đó, khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư cho sản xuất linh kiện trong nước, thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển.

Thị trường lớn, có còn cơ hội?

Theo chuyên gia Nguyễn Minh Đồng, ngày nay, công nghệ sản xuất ô tô trên thế giới đã phát triển mạnh mẽ. Ngành công nghiệp ô tô đang chuyển sang giai đoạn mới với ô tô thông minh, ô tô điện, ngoài các linh kiện cơ khí, còn sử dụng nhiều linh kiện điện tử có hàm lượng công nghệ cao. Vì vậy, việc đếm mảnh để xác định độ rời rạc, rồi ưu đãi thuế đã quá lạc hậu.

Quy định này tồn tại kéo dài khiến nhiều doanh nghiệp ô tô không mặn mà đầu tư để sản xuất linh kiện mà chỉ thích lắp ráp. Việc bãi bỏ quy định lạc hậu hy vọng sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô phát triển.

Chuyên gia Nguyễn Minh Đồng cũng khuyến nghị, Việt Nam nên làm theo các nước có ngành công nghiệp ô tô phát triển trong khu vực. Đó là chuyển sang ưu đãi thuế nhập khẩu tính dựa trên giá trị bộ linh kiện nhập khẩu. Như vậy, sẽ thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ.

Theo dự báo của Bộ Công thương, thị trường ô tô Việt Nam năm 2022 có thể chạm ngưỡng 500.000 xe, sẽ đạt quy mô từ 700.000- 800.000 xe/năm vào năm 2025 và trên 1 triệu xe/năm vào năm 2030. Khi quy mô thị trường đạt 500.000 xe/năm, là bước vào ngưỡng lớn và đến trên 1 triệu xe/năm là rất lớn. Đây là cơ hội cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển. Cùng với đó xu hướng chuyển sang xe xanh cũng mở ra cơ hội cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đi tắt đón đầu. Ngành công nghiệp ô tô sẽ ngày càng có vai trò quan trọng với sự phát triển của đất nước

Bộ Công thương cho biết, sẽ khuyến khích các doanh nghiệp tiếp cận và ứng dụng công nghệ, để chế tạo được các chi tiết, linh kiện quan trọng cho một vài chủng loại xe; tăng cường hợp tác với các hãng ô tô lớn để lựa chọn chủng loại phụ tùng, linh kiện mà Việt Nam có thể sản xuất để đảm nhận vai trò mắt xích trong chuỗi cung ứng toàn cầu, trên cơ sở đó đầu tư công nghệ tiên tiến, sản xuất phục vụ xuất khẩu. Khuyến khích đầu tư các dự án đủ lớn, để tạo dựng thị trường cho công nghiệp hỗ trợ; đồng thời, hình thành một số trung tâm, cụm liên kết công nghiệp ô tô tập trung, đẩy mạnh hợp tác, liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, các doanh nghiệp cơ khí, công nghiệp hỗ trợ, để nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng cường khả năng chuyên môn hoá...

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra mục tiêu, đến năm 2025 có khả năng đáp ứng 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng nội địa và năm đến năm 2030 là 70%. Về số lượng, sẽ có khoảng 1.000 DN và năm 2030 có 2.000 DN đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho lắp ráp ô tô trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó DN trong nước chiếm khoảng 30%.

Tuy nhiên, hiện nay ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ ASEAN về Việt Nam được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi 0%, còn các khu vực khác trên thế giới như: Liên minh châu Âu (EU), Anh, Nhật Bản,... chỉ 7-8 năm nữa là thuế suất thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc cũng giảm về 0%. Như vậy, nhập khẩu xe nguyên chiếc về phân phối dễ dàng hơn, không cần đầu tư cho sản xuất trong nước, vừa tốn kém vừa chịu nhiều rủi ro. Vì vậy, cần có những chính sách ưu đãi lớn, đủ sức hấp dẫn, mới có thể thu hút được đầu tư, mở ra cơ hội cho ngành công nghiệp ô tô trong nước phát triển. 

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là xây dựng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam trở thành ngành công nghiệp quan trọng, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe có lợi thế cạnh tranh, tham gia xuất khẩu, tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác và nâng cao năng lực cạnh tranh để trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng trong chuỗi sản xuất công nghiệp ô tô thế giới.

Mục tiêu đặt ra là đến năm 2035, tổng sản lượng xe đạt khoảng 1.531.400 chiếc, trong đó xe đến 9 chỗ khoảng 852.600 chiếc, từ 10 chỗ trở lên khoảng 84.400 chiếc, xe tải khoảng 587.900 chiếc, xe chuyên dụng khoảng 6.500 chiếc. Tỷ lệ số xe sản xuất lắp ráp trong nước chiếm khoảng 78% so với nhu cầu nội địa.

Về phát triển công nghiệp hỗ trợ, giai đoạn đến năm 2020, cơ bản hình thành ngành công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất ô tô; phấn đấu đáp ứng khoảng 35% (tính theo giá trị) nhu cầu về linh kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước. Giai đoạn 2026 - 2035 đáp ứng trên 65% nhu cầu về link kiện, phụ tùng cho sản xuất lắp ráp ô tô trong nước.

Chiến lược đặt mục tiêu phấn đấu năm 2035, tổng lượng xe xuất khẩu đạt khoảng 90.000 chiếc.

Để đạt được các mục tiêu trên, Chiến lược đã đưa ra các định hướng cụ thể như xác định và thiết lập đối tác chiến lược, khuyến khích đầu tư các dự án đủ lớn để tạo dựng thị trường cho công nghiệp hỗ trợ; khuyến khích sản xuất dòng xe thân thiện môi trường (xe tiết kiệm nhiên liệu, xe hybrid, xe sử dụng nhiên liệu sinh học, xe chạy điện...), đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn khí thải theo lộ trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Tập trung cải tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm bảo đảm hợp chuẩn quốc tế.

Đồng thời, hình thành một số trung tâm/cụm liên kết công nghiệp ô tô tập trung trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại sản xuất; đẩy mạnh hợp tác - liên kết giữa các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô, các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, các cơ sở nghiên cứu - triển khai và các cơ sở đào tạo thuộc mọi thành phần kinh tế để nâng cao hiệu quả đầu tư và tăng cường khả năng chuyên môn hoá...

Hoàn thiện hệ thống pháp luật và phát triển hạ tầng giao thông đảm bảo an toàn giao thông; nâng cao chất lượng dịch vụ.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra mục tiêu, đến năm 2025 có khả năng đáp ứng 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng nội địa và năm đến năm 2030 là 70%. Về số lượng, sẽ có khoảng 1.000 DN và năm 2030 có 2.000 DN đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho lắp ráp ô tô trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó DN trong nước chiếm khoảng 30%.

Sắp tới các chính sách dành cho phát triển ngành công nghiệp ô tô hoàn thiện,

Một loạt DN ô tô lớn đang đầu tư cho sản xuất trong nước như Trường Hải, TC Motor, VinFast... cũng rất chờ đợi sự thay đổi này. Tuy nhiên, ý kiến từ giới chuyên môn cũng cho rằng, quy định trên được bãi bỏ quá muộn, trong khi thực tế đã khác xa thời điểm năm 2004.

Hiện ô tô nguyên chiếc nhập khẩu từ ASEAN về Việt Nam được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi 0%, còn các khu vực khác trên thế giới như: Liên minh châu Âu (EU), Anh, Nhật Bản,... chỉ 7-8 năm nữa là thuế suất thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc cũng giảm về 0%. Như vậy, nhập khẩu xe nguyên chiếc về phân phối dễ dàng hơn, không cần đầu tư cho sản xuất trong nước, vừa tốn kém vừa chịu nhiều rủi ro.

Vì vậy, trong hoàn cảnh hiện nay, cần có thêm những chính sách ưu đãi lớn, đủ sức hấp dẫn, mới có thể thu hút được đầu tư, mở ra cơ hội cho ngành công nghiệp ô tô trong nước phát triển. 

Thái Lan là một ví dụ. Năm 1995, quốc gia này gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và từ năm 1997 đã bãi bỏ quy định nội địa hóa, qua đó giúp thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài khổng lồ vào công nghiệp hỗ trợ, tạo đà để ngành công nghiệp ô tô Thái Lan bứt phá, vươn lên dẫn đầu khu vực ASEAN.

Với con số gần 330.000 xe tiêu thụ trong 8 tháng đầu năm, trong khi nhu cầu về ô tô những tháng cuối năm thường tăng mạnh, dự báo thị trường ô tô Việt Nam năm 2022 có thể chạm ngưỡng 500.000 xe. Với quy mô này cho thấy, thị trường ô tô Việt Nam đang có sự tăng trưởng ấn tượng. Dự báo của các cơ quan chức năng cũng cho thấy, thị trường ô tô Việt Nam có thể đạt quy mô từ 700.000- 800.000 xe/năm vào năm 2025 và trên 1 triệu xe/năm vào năm 2030. quy mô thị trường ô tô tăng nhưng ngành công nghiệp ô tô Việt Nam được hưởng lợi. Chuyên gia Nguyễn Minh Đồng cho rằng, khi quy mô thị trường đạt 500.000 xe/năm, là bước vào ngưỡng lớn và đến trên 1 triệu xe/năm là rất lớn. Nếu ngành công nghiệp ô tô Việt Nam không đáp ứng được thì hàng năm sẽ phải nhập khẩu hàng trăm ngàn xe nguyên chiếc cùng hàng trăm ngàn bộ linh kiện, với kim ngạch hàng chục tỷ USD. Bởi thế, Chính phủ cần có chính sách khuyến khích sản xuất tại Việt Nam để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, thúc đẩy ngành công nghiệp ô tô trong nước phát triển. Nếu không có chínhVới ngành công nghiệp ô tô, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đặt ra mục tiêu, đến năm 2025 có khả năng đáp ứng 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng nội địa và năm đến năm 2030 là 70%. Về số lượng, sẽ có khoảng 1.000 DN và năm 2030 có 2.000 DN đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho lắp ráp ô tô trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó DN trong nước chiếm khoảng 30%.